Bìa [SKXTYNTQCLPT] – Chương 24
SKXTYNTQCLPT

[SKXTYNTQCLPT] – Chương 24

Tác giả: Đại Bạch Nha Nha Nha

2628 từ · 12 phút đọc

Sau Khi Xuyên Thành Yêu Nữ, Ta Quyết Công Lược Phật Tử: [SKXTYNTQCLPT] – Chương 24

Sau khi thu dọn bàn cờ, ba người cùng bước vào sương phòng của Liễu Ngộ để bàn bạc chi tiết chuyện truyền đạo. Sương phòng không lớn, góc phòng kê một chiếc giường đơn sơ, cạnh đó là mấy chiếc rương gỗ lớn đựng đầy kinh thư và bút ký. Bên cửa sổ đặt một bộ bàn ghế, trên bàn bày ấm trà, chén sạch và một cuốn sách bìa đã sờn rách, loang lổ. Thú thực, căn phòng này quá đỗi đơn điệu, đến một bình hoa trang trí cũng chẳng có.

“Huynh vẫn chưa đọc xong cuốn du ký này sao?” Hành Ngọc hỏi.

Liễu Ngộ ngồi xuống bên bàn, rót ba chén trà: “Lúc nhàn rỗi bần tăng lại xem vài trang, cuốn du ký này giúp ích rất nhiều cho việc ngộ đạo.”

Tác giả cuốn sách này là hòa thượng Viên Tĩnh, người từng lừng lẫy một thời từ ba trăm năm trước. Cảnh ngộ của vị tiền bối ấy có nhiều nét tương đồng với Liễu Ngộ, nên những vấn đề và chiêm nghiệm của ông thường mang lại cho chàng nhiều cảm hứng.

Hành Ngọc đón lấy chén trà, hỏi Liễu Ngộ: “Hai mẩu chuyện nhỏ về Phật lý lúc trước ta đưa huynh, huynh còn giữ không?”

Tuy Liễu Ngộ chưa hiểu ý nàng nhưng vẫn gật đầu, lấy tờ giấy từ trong nhẫn trữ vật ra. Thấy chàng thực sự không vứt bỏ tờ giấy ấy, nụ cười của Hành Ngọc thêm phần rạng rỡ. Hành động của chàng tuy không cố ý, nhưng chính vẻ ôn hòa, chu đáo tự nhiên ấy lại là thứ dễ khiến lòng người rung động nhất.

Nàng thầm cảm thán trong lòng, cũng may là nàng định lực tốt, chứ nếu đổi lại là Vũ Mị hay Mộ Hoan, chắc chắn hai nàng yêu nữ ấy sẽ không kìm lòng được mà tìm cách ăn sạch vị tiên nhân thanh cao này. Nghĩ ngợi đâu đâu một hồi, Hành Ngọc khẽ ho khan hai tiếng để lấy lại vẻ nghiêm túc.

Nàng hỏi Liễu Ngộ: “Trong lòng huynh, Phật pháp là thứ trang nghiêm đúng không?”

“Đúng vậy.”

“Vậy nếu ta muốn khiến Phật pháp trở nên gần gũi hơn, dễ dàng khiến bá tánh sinh lòng thân cận, huynh có chấp nhận được không?”

Liễu Ngộ nhìn nàng, liếc qua tờ giấy ghi chuyện Phật lý trên tay, chàng đã đoán ra phần nào ý định của nàng: “Lạc chủ muốn biên soạn thêm những câu chuyện nhỏ như thế này để quảng bá Phật pháp sao?”

Tiểu hòa thượng Liễu Niệm ngồi cạnh nghe mà ngơ ngác, chẳng hiểu gì về chuyện truyện Phật lý. Thấy cậu bé mịt mờ, Hành Ngọc đưa tờ giấy cho cậu rồi nói với Liễu Ngộ:

“Ngoài những câu chuyện nhỏ, còn cần thêm những bài kệ Phật dễ đọc dễ thuộc. Ta còn muốn vẽ minh họa cho chúng, như vậy bá tánh mới dễ tiếp thu.”

Dù là trong vùng đất của Vô Định Tông, bá tánh vẫn có sự phân biệt giàu nghèo, nhiều người nghèo khổ thậm chí còn chẳng biết chữ. Muốn họ hiểu được Phật pháp, dùng tranh vẽ chắc chắn hiệu quả hơn hẳn những dòng kinh văn khô khan.

Liễu Ngộ ngẫm nghĩ một lát rồi chưa vội đồng ý ngay, chàng hỏi: “Lạc chủ có thể cử một ví dụ cho bần tăng xem không?”

Hành Ngọc búng tay một cái. Chuyện Phật lý thì không cần nói, nàng tuôn ra một tràng những câu kệ nổi tiếng, nào là “Rượu thịt nếm qua, Phật tại tâm ta; Thế nhân học ta, ắt sa ma đạo”; nào là lời thệ nguyện của Địa Tạng Bồ Tát “Địa ngục chưa trống, thề không thành Phật”; rồi lại đến “Bồ đề vốn chẳng cây, gương sáng cũng không đài; xưa nay không một vật, nơi nào dính bụi bặm”…

(*) Rượu thịt nếm qua, Phật tại tâm ta; Thế nhân học ta, ắt sa ma đạo: Đây là câu nói nổi tiếng của hoà thượng Tế Công. Ý nói người tu hành đạt đạo thì tâm không bị vướng bận bởi hình thức bên ngoài như ăn thịt, uống rượu, nhưng người đời nếu chỉ bắt chước cái vẻ ngoài đó mà tâm chưa tịnh thì sẽ rơi vào con đường lầm lạc như ma đạo.

(*) Địa ngục chưa trống, thề không thành Phật: Đây là lời thệ nguyện vĩ đại của Địa Tạng Vương Bồ Tát. Ngài nguyện xuống địa ngục để cứu độ chúng sinh, khi nào địa ngục không còn ai chịu khổ đau thì Ngài mới chịu thành Phật.

(*) Bồ đề vốn chẳng cây, gương sáng cũng không đài; xưa nay không một vật, nơi nào dính bụi bặm: Đây là bài kệ trứ danh của Lục tổ Huệ Năng. Ý nghĩa sâu xa là mọi thứ trên đời đều là hư ảo, tâm ta vốn dĩ thanh tịnh thì bụi bặm (phiền não) chẳng có nơi nào để bám vào.

Dĩ nhiên, chuyện về Địa Tạng Bồ Tát thì Liễu Ngộ biết, nhưng bài kệ “Bồ đề” kia thì chàng chưa từng nghe thấy bao giờ. Để chàng dễ hình dung, Hành Ngọc đành kể thêm điển tích đằng sau bài kệ đó.

“Tất nhiên, ta không hiểu rõ mọi chuyện trong Phật môn. Nếu các người thấy phương pháp này khả quan, hãy liệt kê những sự tích về các vị Bồ Tát, Phật Tổ hoặc các vị cao tăng của Vô Định Tông cho ta, ta sẽ chịu trách nhiệm biên soạn lại thành những câu chuyện nhỏ dễ hiểu.”

Hành Ngọc kết luận. Nàng chẳng mong Liễu Ngộ và Liễu Niệm hiểu được cái gọi là thổi hồn nghệ thuật vào câu chuyện là thế nào đâu. Nếu phương pháp này do nàng đề ra, nàng sẽ tự mình bỏ công sức để nhào nặn lại chúng.

Nghe xong, Liễu Niệm tỏ ra vô cùng hứng thú. Cậu giơ tay, mắt lấp lánh vẻ phấn khích: “Những chuyện như ‘Phật Tổ cắt thịt nuôi ưng’ có được không? Hay là chuyện ‘Tổ sư Liên Thượng niết bàn’, rồi cả chuyện ‘Phật tử Vô Nhạc viên tịch bên tường từ ngàn năm trước’ nữa?”

Hành Ngọc gật đầu lia lịa. Định cúi xuống ghi chép thì nàng mới sực nhớ mình không mang theo giấy bút. Nàng khẽ gõ ngón tay lên mặt bàn, đưa mắt ra hiệu cho Liễu Ngộ: “Liễu Ngộ sư huynh, lúc mấu chốt phải biết quan sát sắc mặt chứ. Ví như hiện tại, bên tay ta đang thiếu giấy mực đây này.”

Liễu Niệm “ơ” một tiếng, nhanh nhẹn nhảy khỏi ghế: “Không phiền sư huynh, để đệ đi lấy!”

Hành Ngọc: “…” Tiểu hòa thượng này thật là nhiệt tình quá mức mà.

Liễu Niệm mang giấy mực từ góc phòng ra, múc nước định mài mực thì Liễu Ngộ đã nhanh hơn một bước. Chàng nhẹ nhàng vén tay áo tăng bào, cầm thỏi mực thong thả mài. Sau khi xong, chàng đặt thỏi mực xuống, đẩy nghiên mực về phía Hành Ngọc: “Mời Lạc chủ.”

Hành Ngọc nhướng mày, vén tay áo phải, cầm bút lông thấm mực bắt đầu viết lên tờ giấy trắng. Luyện chữ bao lâu nay cuối cùng cũng có kết quả, nét chữ của nàng giờ đây đã mang khí khái kỳ vĩ, độc đáo và đầy phong vị. Ghi lại sự việc Phật tử Vô Nhạc viên tịch xong, nàng bắt đầu biên soạn:

“Vô Nhạc thuở nhỏ mồ côi, sống đời gian khó, sau nhờ có duyên với Phật mà bái nhập Vô Định Tông, trở thành Phật tử đương thời. Phật pháp của Người cao thâm, được thế gian sùng kính.

Ngày nọ, Vô Nhạc đang nhắm mắt tụng kinh bỗng bừng mở mắt, nói với chúng đệ tử: “Trên đại lục này tồn tại cõi Phật vô lượng, nơi ấy hoa sen đỏ rợp trời, tiếng Phật vang rền, thật là tiên cảnh nhân gian.” Nói đoạn liền nhắm mắt lại.

Đệ tử nhìn nhau, tiến lại kiểm tra hơi thở thì thấy Người đã tọa hóa viên tịch. Chúng đệ tử hô vang: “Phật tử đã thành Phật mà đi rồi!”

Khi Hành Ngọc viết xong, Liễu Niệm vội vàng ghé mắt vào xem. Xem xong, cậu đầy ngơ ngác: “Cõi Phật vô lượng là cái gì ạ?”

Hành Ngọc thản nhiên: “Là nơi Phật Tổ ở.”

Liễu Niệm rất thật thà: “Nhưng trong chuyện đệ kể, Vô Nhạc Phật tử đâu có nói thế. Người chỉ mở mắt nói cảm thấy thọ nguyên đã tận, rồi nhắm mắt tọa hóa thôi mà.”

Cái gì mà “hoa sen đỏ rợp trời”, “tiếng Phật vang rền”, rồi “thành Phật mà đi”… những lời này trong phiên bản của cậu hoàn toàn không có!!!

Hành Ngọc hỏi ngược lại: “Vậy phiên bản của đệ hay, hay phiên bản của ta dễ khiến người đời sinh lòng hướng Phật hơn?”

Liễu Niệm ngẩn ra. Rất nhanh, cậu nhận ra Hành Ngọc đang làm gì. Đây chẳng phải là công khai… lừa người sao? Nhưng sự thật đúng như nàng nói, phiên bản của nàng khiến người ta tôn sùng Phật môn hơn nhiều. Cậu không biết chọn sao, đành nhìn về phía Liễu Ngộ.

Liễu Ngộ lẳng lặng nhận lấy tờ giấy. Xem xong nội dung, chàng không nhịn được mà bật cười: “Chuyện này…”

“Hửm?” Hành Ngọc nhìn chàng.

Liễu Ngộ nhận xét: “Rất thú vị.”

Hành Ngọc lập tức hiểu ý, ném cho chàng một cái nhìn đầy ẩn ý. Xem ra vị Phật tử này cũng không phải hạng bảo thủ cứng nhắc. Đúng vậy, người xuất gia đi truyền đạo thì phương thức cũng nên linh hoạt một chút. Nàng mới chỉ thổi hồn nghệ thuật một chút mà Liễu Niệm đã kinh ngạc thế kia, nếu nàng tự biên tự diễn từ đầu đến cuối, chắc cậu bé ngất xỉu mất.

Liễu Ngộ như không nhận thấy ánh mắt của nàng. Câu chuyện của Lạc chủ thực chất là đang tô hồng sự việc Vô Nhạc Phật tử viên tịch. Nàng đang làm rạng danh Phật môn chứ không phải bôi nhọ, vả lại mọi chuyện nàng làm đều là vì cuộc đấu của chàng. Liễu Ngộ vốn không phải kẻ không biết điều, nên chàng quyết định cứ dung túng cho nàng một chút nghịch ngợm như mọi khi.

“Lạc chủ cứ viết theo ý mình đi. Bần tăng cũng sẽ soạn lại các sự tích tương tự, phiền Lạc chủ đơn giản hóa chúng thành những câu chuyện nhỏ như thế này.”

Liễu Ngộ chắp tay nói đoạn rồi đi về phía góc phòng, lấy thêm một bộ giấy bút. Chàng trải giấy ra và cũng bắt đầu viết. Cả hai cùng cầm bút, chỉ còn Liễu Niệm ngồi bên cạnh với gương mặt thẫn thờ. Sư huynh, huynh vừa từ bỏ nguyên tắc của mình đấy à!

Bận rộn suốt hai canh giờ, Hành Ngọc biên soạn được mười tám câu chuyện, đúc kết thêm mười câu kệ Phật. Cộng với hai chuyện cũ, họ đã có trong tay tổng cộng hai mươi mẩu chuyện nhỏ. Hành Ngọc thu dọn giấy tờ: “Mấy ngày tới ta sẽ trau chuốt lại chỗ này và vẽ minh họa cho chúng.”

Liễu Ngộ khẽ thở dài. Chuyện của Phật môn không thể cứ để nàng gánh vác mãi được. Chàng hỏi: “Nếu Lạc chủ không ngại, có thể dành chút thời gian dạy bần tăng cách vẽ minh họa cho những câu chuyện này không?”

“Huynh muốn học sao?”

“Cũng có vài phần hứng thú.”

Hành Ngọc cười: “Vậy mai ta sẽ dạy huynh, giờ ta phải về luyện kiếm đây.”

Rời khỏi sương phòng, Hành Ngọc đi xuống chợ dưới chân núi. Nàng thấy một sạp hàng bán những chậu Hải đường dáng rủ. Ánh mắt nàng dừng lại trên những đóa hoa diễm lệ ấy một hồi lâu. Chủ quán thấy vậy liền đon đả chào mời: “Tiên tử có muốn mua một chậu không? Hải đường đang độ đẹp nhất, đặt bên cửa sổ sẽ khiến tâm trạng vui vẻ lắm đó.”

Hải đường dáng rủ đang kỳ nở rộ, tỏa hương thanh khiết nhè nhẹ. Hành Ngọc ngồi xuống chọn chậu đẹp nhất: “Lấy chậu này đi.”

Thanh toán xong, nàng lại quay ngược lên chùa Thanh Vân. Nhìn qua cửa sổ sương phòng, thấy vị Phật tử kia vẫn đang ngồi bên cửa sổ thu xếp kinh văn. Nàng rảo bước tới, tựa vào cửa sổ mỉm cười: “Có hứng thú chăm sóc một chậu hoa không?”

Liễu Ngộ nghiêng đầu, chàng đứng dậy vươn tay ra. Hành Ngọc đứng ngoài cửa sổ trao chậu Hải đường cho chàng. Thấy chàng ôm chậu hoa ngắm nghía kỹ lưỡng, nàng vẫy vẫy tay: “Ta đi đây!”

Khi nàng xoay người, tà váy tung bay vẽ nên một đường cong sắc sảo. Liễu Ngộ bước ra cửa nhìn theo bóng nàng khuất dần mới quay vào, đặt chậu hoa lên bệ cửa sổ. Ánh nắng xuyên qua kẽ lá hải đường, hắt xuống mặt bàn một vùng bóng râm tĩnh lặng.

Trở về viện, Hành Ngọc tiếp tục luyện kiếm. Sau một ngàn nhát kiếm, nàng vào thư phòng, lấy xấp chuyện Phật lý ra vẽ tranh minh họa. Nàng dùng lối vẽ giản lược, cốt là để bá tánh dễ hình dung, nên tiến độ rất nhanh. Vẽ xong ba bức, nàng xoa xoa cổ tay, lại ra sân vung kiếm. Tuy mệt nhưng nàng thấy vui, thầm nghĩ may mà Liễu Ngộ chủ động muốn học vẽ, từ mai mình có thể lười biếng một chút rồi.

Sáng hôm sau, Hành Ngọc lại đến chùa Thanh Vân. Nàng không dạy trực tiếp mà ném mấy bức vẽ tối qua lên trước mặt Liễu Ngộ: “Huynh xem đi, đại khái là kiểu thế này.”

Với ngộ tính của Liễu Ngộ, có vật mẫu chắc chắn chàng sẽ học rất nhanh. Liễu Ngộ lật xem chăm chú rồi nắm bắt được ý đồ của nàng.

“Vậy huynh vẽ thử đi, nếu có chỗ nào không ổn ta sẽ chỉ cho.” Hành Ngọc đề nghị.

Liễu Ngộ trải giấy mài mực, bắt đầu vẽ. Hành Ngọc vừa luyện kiếm xong, tay vẫn còn đau nhức nên không muốn cầm bút, nàng sang phòng bên xách tiểu hòa thượng Liễu Niệm ra bắt cậu đánh cờ với mình.

Năm ngày tiếp theo, cả ba dồn toàn lực cho tập chuyện Phật lý. Nhờ sự phối hợp nhịp nhàng, công việc hoàn thành vô cùng thuận lợi. Sau đó, Liễu Niệm mang bản thảo đi tìm chủ trì, nhờ người khắc bản in ra một ngàn cuốn.

Chủ trì xem xong bản thảo thì không khỏi kinh ngạc. Lật đến trang cuối cùng, người khẽ thở dài: “Chẳng trách Lạc thí chủ có duyên với Phật môn, tuệ căn của nàng thực sự hiếm có.”

Khen ngợi xong, người đồng ý giúp đỡ và còn muốn in thêm để phát cho các hòa thượng trong chùa và khách thập phương. Liễu Niệm chắp tay: “A Di Đà Phật, Lạc chủ nói chỉ cần có lợi cho việc quảng bá Phật môn, quyển sách này tùy ý để chúng ta xử trí.”

Thời gian thấm thoát thoi đưa, kỳ hạn nửa tháng đã đến. Tiêu Dao Tử trong bộ đạo bào xanh lơ lại xuất hiện trước cổng chùa Thanh Vân, tay vung phất trần, phong thái hừng hực như kẻ đến đòi nợ.