Chiếc hộp ngọc trong suốt không chút tạp chất, vốn được mài giũa từ loại ngọc quý hiếm thấy trên thế gian. Đáng tiếc, trên thân hộp lại chẳng hề chạm trổ bất kỳ hoa văn nào, khiến nó trông có vẻ hơi đơn điệu, tầm thường.
Thế nhưng, điều này quả thực rất phù hợp với thẩm mỹ của người tu Phật.
“Bên trong đựng thứ gì vậy?” Hành Ngọc thuận miệng hỏi.
Liễu Ngộ không đáp lời, chỉ lặng lẽ đưa hộp ngọc về phía nàng.
Hành Ngọc đưa tay đón lấy.
Hộp ngọc vừa chạm vào tay cảm giác ấm áp, trơn mịn cực kỳ tốt. Khi cầm trọn chiếc hộp trong lòng bàn tay, nàng cảm nhận được một tia dao động linh lực vốn chỉ thuộc về riêng mình.
Nàng lập tức đoán ra thứ bên trong là gì.
Chính là chiếc lá bạch quả kia.
Ngón cái khẽ vuốt ve mặt hộp ngọc, Hành Ngọc không hề vội vàng mở ra, trên mặt nàng cũng chẳng lộ vẻ gì là vui mừng.
Ngược lại, đó là một sự dò xét, một sự suy tư trầm mặc.
Nàng ngẩng đầu nhìn Liễu Ngộ. Chàng cũng đang khẽ cúi người nhìn nàng.
Ánh mắt hai người giao nhau.
“… Huynh có thể giải đáp nghi hoặc cho ta không? Cái gọi là thể chất Phật cốt bẩm sinh rốt cuộc có ý nghĩa gì, và vì sao huynh lại được xưng tụng là ánh sáng của Phật môn?”
Từ khi quen biết đến nay, vị Phật tử này luôn trả lời mọi nghi vấn mà nàng đặt ra, dung túng cho cả sự kiêu kỳ lẫn những lời trêu chọc của nàng.
Có đôi khi, dẫu không thể trả lời, chàng cũng chỉ chọn cách im lặng mà đối diện.
Đây là lần đầu tiên, nàng nghe thấy hai chữ khước từ rạch ròi từ miệng chàng.
Hắn nói: “Lạc chủ, việc này vốn là bí mật của Phật môn, bần tăng không tiện tiết lộ.”
“Vậy tại sao huynh lại nhanh chóng trả lại lá bạch quả cho ta như vậy?”
Chiếc lá kia vốn dĩ chỉ là thứ nàng tùy tay nhặt dưới đất, chẳng hề quý giá.
Điểm quan trọng thực sự nằm ở ý nghĩa tượng trưng của nó.
Nó tượng trưng cho việc chàng không hề bài xích chuyện nàng đang công lược mình.
“Hôm nay Lạc chủ tặng bần tăng một cuốn du ký, bần tăng đáp lễ bằng một chiếc hộp ngọc, bất quá cũng chỉ là chút quà có qua có lại mà thôi.”
Mười ngón tay Hành Ngọc siết chặt lấy hộp ngọc.
Nàng cảm nhận được hơi thở lạnh lẽo thấm qua lớp ngọc truyền vào tay mình.
Thời gian qua, hai người không ngừng thăm dò, từng bước đối chiêu. Nàng khiến vị Phật tử này học được cách chuẩn bị sẵn đồ ăn vặt trong nhẫn trữ vật; nàng khiến chàng thử chạm đến cảnh giới khi thì Kim Cang trợn mắt, lúc thì Bồ Tát rũ mi…
Vốn dĩ nàng cứ ngỡ, trong cuộc giằng co này, mình là người chiếm thế thượng phong.
Nhưng giờ nhìn lại, dường như Liễu Ngộ đã nhìn thấu tâm can nàng quá nhiều; trong khi nàng lại chẳng hề hay biết thân phận của chàng đại diện cho điều gì, hay mục đích thực sự của hắn khi tích cực ứng đối tình kiếp này là chi.
Cho nên, người đang ở thế hạ phong trong cuộc chơi này… dường như lại chính là nàng.
“Là ta đã xem thường Phật tử rồi.” Hành Ngọc giơ tay vén lọn tóc mai, “Món quà đáp lễ này ta nhận, ta rất thích.”
Trên cổ tay nàng đeo một xâu lục lạc nhỏ, theo động tác khẽ rung, lưỡi lục lạc chạm vào vách kim loại, phát ra tiếng vang trong trẻo.
Tiếng động ấy cũng phá tan bầu không khí giằng co thầm lặng giữa hai người.
“A Di Đà Phật.”
Liễu Ngộ chắp tay trước ngực, bình thản niệm một câu Phật hiệu.
“Bần tăng cứ ngỡ món đáp lễ này chính là thứ mà hiện tại Lạc chủ muốn có nhất, chẳng lẽ bần tăng đã đoán sai sao?”
“Không sai, chỉ là món quà này đến quá nhanh, nhanh tới mức khiến ta cảm thấy sự việc đã không còn diễn ra theo đúng tiết tấu mà ta dự liệu thôi.”
Liễu Ngộ khẽ mím môi, trên gương mặt thoáng qua một nét cười nhàn nhạt.
Ý cười ấy làm tan đi vẻ lãnh đạm thường ngày, dưới sự điểm xuyết của nốt chu sa giữa chân mày, trông chàng dường như sinh động, chân thực hơn hẳn dạo trước.
“Lạc chủ có thể luôn tính toán không chút sai sót nào sao?”
Hành Ngọc đáp: “Trước kia ta từng nghĩ mình có thể.”
Cục Quản lý Thời không nắm giữ hàng tỷ thời không, nàng với tư cách là cấp cao của Cục, ngoài việc đối phó với những chuyện của hệ thống nghiên cứu, còn phải đối mặt với đủ loại nghi kỵ, giao tranh không ngừng với vô số thế lực.
Hành Ngọc cảm thấy, mình có đủ vốn liếng để kiêu ngạo như thế.
Nhưng rất nhanh, nàng mỉm cười bổ sung: “Hiện tại ta vấp ngã trước mặt Phật tử, mới biết mình chẳng thể tiên liệu được mọi sự trên đời như ta nghĩ.”
Đặc biệt là chuyện tình cảm – thứ mà nàng chưa từng có chút kinh nghiệm nào.
Nghe thấy cách xưng hô của nàng từ “Liễu Ngộ sư huynh” đổi ngược lại thành “Phật tử”, Liễu Ngộ khẽ thở dài một tiếng.
Dường như chàng muốn mở lời giải thích điều gì đó, nhưng cuối cùng… vẫn chọn cách im lặng.
“Chúng ta đi phơi kinh thư thôi, tiểu hòa thượng Liễu Niệm đã đứng đằng kia lườm ta nửa ngày trời rồi.”
Hành Ngọc vươn vai một cái rồi đứng dậy, lướt qua người Liễu Ngộ đi thẳng về phía Liễu Niệm.
Liễu Niệm nhân lúc sư huynh không chú ý, lén lút lườm yêu nữ này một cái sắc lẹm.
“Lườm ta làm gì?” Hành Ngọc thẳng tay vỗ vào sau gáy cậu, lực đạo không nặng: “Trong chuyện này ta thật sự vô tội, hơn nữa ta còn cảm thấy mình vừa bị sư huynh đệ bẫy một vố đây này.”
Vừa rồi khoảng cách hơi xa, tiếng trò chuyện của Hành Ngọc và Liễu Ngộ lại nhỏ, Liễu Niệm đứng bên này vừa nhón chân vừa ngóng cổ cũng chẳng nghe rõ hai người đang nói gì.
Bây giờ nghe Hành Ngọc nói vậy, cậu lập tức tỉnh táo hẳn lên: “Lạc chủ bị sư huynh ta bẫy ư?”
“… Tiểu hòa thượng, cái vẻ đắc ý khi thấy người khác gặp họa của đệ có thể đừng lộ liễu quá vậy không?”
Liễu Niệm nỗ lực nén lại khóe môi đang cong lên, gật đầu lia lịa: “Được, ta sẽ kiềm chế lại một chút.”
Hành Ngọc: “…”
Nàng không nhịn được, ngón trỏ tay phải khẽ gập lại, “cốc” mạnh một cái thật kêu lên cái đầu trọc lốc của Liễu Niệm.
Liễu Ngộ đứng dưới gốc cây bạch quả, lặng lẽ dõi theo cảnh tượng ấy.
Giữa sân đột ngột có một trận gió thu lướt qua, làm góc áo tăng bào của chàng khẽ lay động.
Liễu Ngộ hơi khom lưng, giữ lấy vạt áo rồi lẳng lặng đi về phía sương phòng của mình, bắt đầu mang kinh thư ra phơi nắng.
Đến lúc phụ giúp một tay, Hành Ngọc mới biết đám hòa thượng Vô Định Tông này cuồng đến mức nào.
Mỗi người bọn họ vậy mà đều mang theo bên mình vài trăm cuốn kinh thư; số lượng nhiều đến mức việc lật giở mang ra phơi cũng trở nên vô cùng phiền toái.
Hành Ngọc đứng bên cạnh thấy buồn chán, cũng bước tới giúp Liễu Ngộ một tay.
Phơi được một lúc, nàng không kìm được mà tò mò lật xem những dòng kinh văn trên trang giấy.
Những hàng chữ Phạn dày đặc hiện ra, khi Hành Ngọc tĩnh tâm nhìn kỹ, nàng cảm giác như mỗi con chữ đều mang theo ánh kim nhạt và thiền ý sâu xa.
Tất nhiên, nàng chưa từng học chữ Phạn, hoàn toàn không hiểu nội dung bên trong viết gì.
“Ngày thường các huynh đều đọc những loại kinh thư này sao?”
Liễu Ngộ đang khom lưng cẩn thận chỉnh đốn đống kinh văn, xếp chúng đan xen nhau một cách có hàng lối.
Nghe nàng hỏi, chàng ngừng tay, đứng thẳng người dậy rồi khẽ nghiêng đầu nhìn cuốn kinh trên tay nàng.
Suy ngẫm một lát, Liễu Ngộ đoán được điều nàng thực sự muốn hỏi: “Đệ tử Vô Định Tông đa phần đều đọc kinh thư viết bằng chữ Phạn. Tuy nhiên, khi ra ngoài truyền đạo, để tín đồ dễ dàng tiếp nhận và thấu hiểu ý tứ của Phật pháp, chúng ta đều dịch sang ngôn ngữ thông dụng.”
“Tại sao lại phải làm vậy?” Hành Ngọc đổi sang mấy cuốn khác để lật xem.
Quả nhiên, ngoại trừ một cuốn dùng ngôn ngữ phổ thông của đại lục, bốn cuốn còn lại đều được viết bằng chữ Phạn.
“Chữ Phạn là văn tự do Phật Tổ sáng tạo ra. Các tiền bối Phật môn cho rằng dùng chữ Phạn để chép kinh sẽ giúp đệ tử dễ dàng lĩnh hội Phật đạo hơn.”
Hành Ngọc khẽ nhướng mày, hóa ra là vậy.
Nàng vừa phơi kinh vừa thỉnh thoảng liếc nhìn nội dung bên trong, đột nhiên nhớ tới một chuyện: “Các huynh có bao giờ biên soạn lại những mẩu chuyện nhỏ về Phật lý mang tính triết học không?”
Nếu có thì tốt, nàng có thể dùng chúng như truyện đọc giải khuây để giết thời gian.
“Chuyện nhỏ về Phật lý… mang tính triết học?” Liễu Ngộ lắc đầu: “Lạc chủ muốn nhắc tới loại truyện như thế nào?”
Thế giới này vậy mà lại thiếu vắng loại truyện ngụ ngôn ấy sao?
Hành Ngọc ngẫm nghĩ rồi nói: “Để ta lấy một ví dụ cho huynh.”
Liễu Ngộ lập tức dừng hẳn công việc đang làm, bày ra dáng vẻ chuyên tâm, nghiêm túc lắng nghe nàng nói.
Trong ký ức của nàng có không ít những điển tích Phật giáo sâu sắc, Hành Ngọc chọn lấy một câu chuyện rồi kể:
“Ngày xưa có một vị tướng quân tên là Trương Hiến Trung dẫn binh đi đánh thành. Khi đóng quân trong một ngôi miếu ở ngoại thành, hắn nhất thời nổi hứng, ép buộc các hòa thượng trong miếu phải ăn thịt. Bấy giờ có vị hòa thượng hiệu là Phá Sơn đứng ra nói: ‘Chỉ cần tướng quân hứa sau khi công thành không thảm sát dân chúng, bần đạo nguyện ý ăn thịt’. Trương Hiến Trung đồng ý, Phá Sơn quả nhiên nhắm mắt ăn thịt.”
“A Di Đà Phật. Trong câu chuyện này, Phá Sơn vì cứu vạn dân trăm họ mà phá giới, quả là một vị đắc đạo cao tăng mang đại công đức trên mình.”
“Đúng vậy, câu chuyện này thực chất là để làm nổi bật một đạo lý: ‘Rượu thịt đi qua ruột, Phật ngự tại trong tâm’.”
Hành Ngọc từ trong nhẫn trữ vật lấy ra một bầu rượu: “Vậy nên, tiết trời hôm nay đẹp như thế này, hay là dựa vào câu chuyện Phật lý vừa rồi, huynh cùng ta uống vài chén nhé?”
Liễu Ngộ không hề bị nàng làm cho lung lạc: “Phá Sơn phá giới là để cứu mạng mấy vạn bá tánh, điều đó có thể cảm thông. Nhưng đạo lý mà Lạc chủ nói cần phải tùy vào hoàn cảnh mà xét, ví như hiện tại, bần tăng chẳng có lý do gì để uống rượu phá giới cả.”
Quả nhiên là không lừa được chàng.
Hành Ngọc bĩu môi, vốn định trực tiếp dốc bầu rượu uống một ngụm, nhưng sực nhớ mình đang ở chốn Phật môn, đành mất hứng thu bầu rượu lại: “Huynh nói không sai, thế nhân đa phần chỉ nhớ nửa câu đầu, mà quên mất phía sau còn có nửa câu nữa: ‘Thế nhân nếu học ta, chẳng khác gì nhập ma đạo’.”
Rượu thịt đi qua ruột, Phật ngự tại trong tâm. Thế nhân nếu học ta, chẳng khác gì nhập ma đạo.
Liễu Ngộ mặc niệm hai câu thơ này, cảm thấy chúng vô cùng thâm thúy.
Thế nhân luôn mải miết tìm kiếm điểm đặc biệt của bậc đại năng, nếu thấy mình có điểm tương đồng thì liền lấy làm đắc ý. Nhưng họ quên mất rằng, đại bàng lao xuống vực là để tung cánh ngự trị trời xanh, còn gà rừng nhảy xuống vực thì chỉ có con đường chết thảm.
Mù quáng bắt chước những điều đó vốn dĩ chẳng có ý nghĩa gì.
Liễu Ngộ bắt đầu nảy sinh hứng thú, chủ động truy vấn: “Còn câu chuyện nào thú vị như vậy nữa không?”
Hành Ngọc nhún vai, tỏ vẻ vô can: “Còn tùy tâm trạng đã, dù sao thì hôm nay đến đây là hết rồi.”
Liễu Ngộ bỗng nhớ lại lúc nãy nàng vừa đổi cách xưng hô gọi mình là “Phật tử”. Lẽ nào nàng vẫn còn không vui trong lòng?
Chàng gật đầu: “Vậy bần tăng xin phép phơi xong chỗ kinh thư này đã.”
Hành Ngọc: “???”
Nàng vừa định mở miệng mỉa mai, thì Liễu Ngộ đang cúi người xếp kinh thư lại bổ sung thêm một câu: “Lát nữa bần tăng còn phải xuống phòng bếp để học cách làm bánh Bồ Đề.”
Hành Ngọc lúc này mới hài lòng ra mặt.
Trong lúc Hành Ngọc và Liễu Ngộ trò chuyện, Liễu Niệm vẫn luôn lặng lẽ đứng bên cạnh làm việc của mình.
Có rất nhiều điều cậu nghĩ mãi không thông, sau khi phơi xong đống kinh thư của mình, Liễu Niệm lén lút chuồn ra khỏi viện, đi dạo quanh chùa.
Khi tản bộ tới đình hóng gió ở sau núi, Liễu Niệm trông thấy Trụ trì của chùa Thanh Vân đang ngồi bên bàn đá.
Trước mặt ông là một bàn cờ đã bày sẵn, ông đang tự đánh cờ với chính mình.
“Trụ trì.” Liễu Niệm suy nghĩ một chút rồi tiến lên thỉnh an.
Mạch suy nghĩ bị cắt ngang, Trụ trì buông quân cờ trắng trên tay xuống.
Trụ trì lặng lẽ quan sát Liễu Niệm một hồi, khẽ mỉm cười hỏi: “Hình như lòng ngươi đang có điều vướng bận?”
Bị đôi mắt thông tuệ mà ôn hòa ấy nhìn thấu, Liễu Niệm bất giác gật đầu: “Dạ, đúng là có chút hoang mang.”
“Vậy ngồi xuống cùng bần tăng đánh một ván cờ đi. Biết đâu khi ván cờ tàn, ngươi sẽ tìm thấy lời giải cho mình.” Trụ trì ôn tồn nói.
Kỳ thực, tự mình đánh cờ mãi cũng buồn chán, tìm được một người để dụ dỗ bầu bạn cũng chẳng tồi.
Hơn nữa, ông cũng rất tò mò không biết tiểu sư phụ này đang ưu phiền chuyện chi.
Liễu Niệm mơ hồ ngồi xuống đối diện vị trụ trì. Cậu quan sát thế trận trên bàn cờ một lát rồi cầm quân cờ đen, hạ xuống một điểm.
Đánh được một lúc lâu, Liễu Niệm khẽ mím môi, ướm lời: “Trụ trì còn nhớ ba quẻ thiêm mà Lạc chủ rút được mấy ngày trước không?”
Trụ trì cười ha hả: “Thứ ngươi muốn hỏi chắc không phải về ba quẻ thiêm đó, mà là về quẻ nhân duyên kia chứ gì? Bần tăng đại khái đoán được tiểu sư phụ đang băn khoăn điều gì rồi.”
Liễu Niệm ngượng nghịu gãi đầu.
Trụ trì kẹp một quân cờ trắng giữa hai ngón tay, một tiếng “cạch” thanh thúy vang lên, quân cờ đã nằm gọn trên bàn: “Bần tăng nghe Chưởng giáo các ngươi nói, Phật tử chuyến này nam hạ là để độ tình kiếp?”
Tu vi của Trụ trì chùa Thanh Vân không cao, nhưng Phật pháp lại vô cùng thâm hậu.
Ông vốn thâm giao nhiều năm với Chưởng giáo Vô Định Tông, nên ngay khi Liễu Ngộ vừa dời gót tới đây, ông đã nhận được mật thư của Chưởng giáo, trong đó hé lộ không ít tâm tư.
Bởi vậy, ông biết rõ chuyện Liễu Ngộ độ kiếp, cũng hiểu rõ thân phận của vị Phật tử này quan trọng đến nhường nào.
Liễu Niệm lặng lẽ gật đầu.
“Sư huynh ngươi hiện tại, mỗi lời nói mỗi hành động đều là đang ở trong kiếp số. Hắn vốn là người có chừng mực, hiểu rõ tầm quan trọng của mình đối với Phật môn, tuyệt đối sẽ không làm ra chuyện gì khiến tông môn khó xử hay hổ thẹn.”
“Nhưng mà… nhưng mà…”
Nghĩ đến vị yêu nữ kia, Liễu Niệm lại đưa tay vò đầu bứt tai:
“Nếu sư huynh chỉ vì độ kiếp, vậy còn Lạc chủ thì sao?”
“Nàng ta đương nhiên cũng có lý do của riêng mình.”
Trụ trì nâng chén trà nhấp một ngụm nhuận họng, “Hai người họ ấy mà, giống như quân trắng đen đang giao phong trên bàn cờ này vậy, đây định sẵn là một trận đánh có thế lực ngang nhau. Chúng ta vốn không phải người trong cuộc, chẳng rõ tâm tư họ ra sao, tốt nhất cứ làm kẻ đứng xem cho rảnh nợ, chớ có can dự vào, hãy để họ tự mình hạ xong ván cờ này đi.”
Ông đặt chén trà xuống, cười nói: “Dẫu sao cổ nhân có câu, xem cờ không nói mới thực sự là quân tử.”
Dùng cờ vây làm ví dụ sao?
Liễu Niệm cúi đầu, nhấc một quân cờ đen lên, kiên quyết hạ xuống: “Đánh cờ thì ắt phải có thắng thua.”
“Đúng vậy.” Trụ trì hạ quân bạch tử rồi cười lớn, “Ví như hiện tại, ngươi thua rồi.”
Liễu Niệm ngẩn người.
Cậu cúi đầu nhìn kỹ bàn cờ, phát hiện sau nước đi vừa rồi của trụ trì, đại long của cậu đã hoàn toàn bị tiêu diệt.
Truyện được edit bởi LenguyenngocThanh 🦋
Khiến cho một vị Phật tử phải đích thân vào bếp, quả thực là một chuyện mang lại cảm giác thành tựu cực lớn.
Nhất là khi vị Phật tử này có dung mạo tuấn tú thoát tục, lúc lãnh đạm trông chẳng khác nào vị thần Phật trên chín tầng mây đang rủ mắt nhìn xuống nhân gian.
Vậy mà giờ đây, chàng lại đứng bên thớt nhào nặn cục bột, trông cứ như vị thần Phật ấy vừa bị ai đó dội cả chậu bột mì lên người vậy.
Hành Ngọc đứng bên cạnh lật xem thoại bản, thi thoảng lại nghiêng đầu quan sát xem chàng đã làm đến bước nào.
Liễu Ngộ nhận ra ánh mắt của nàng, quay lại nhìn: “Nếu Lạc chủ đang nhàn rỗi, có thể ra tiền viện tìm cây bồ đề ngàn năm kia, mang về cho bần tăng ít lá bồ đề được không?”
Dừng một chút, chàng bổ sung: “Chỉ lấy những lá vừa tự nhiên rụng xuống thôi.”
Hành Ngọc cuộn lại cuốn thoại bản, lười biếng đứng dậy.
Trên đường đi ra tiền viện, nàng tình cờ chạm mặt Liễu Niệm.
“Liễu Niệm, đệ vừa đi đâu vậy? Phơi xong kinh thư đã không thấy tăm hơi đâu rồi.” Hành Ngọc ngạc nhiên hỏi.
Liễu Niệm đáp: “Ta vừa đi đánh cờ với trụ trì.”
“Đệ có rảnh không? Đi hái lá bồ đề với ta đi. Hái nhiều một chút, xem xem sư huynh đệ có thể một lần mà thành công làm ra bánh Bồ Đề không.”
Nàng vừa nói vừa đi lên phía trước, Liễu Niệm định mở miệng định từ chối, nhưng chợt nhớ tới lời trụ trì, Cứ làm kẻ đứng xem cho rảnh nợ.
Thế là cậu im lặng, lẳng lặng đi theo nàng.
Mười lăm phút sau, Liễu Niệm mặt mày ủ rũ xách giỏ lá đầy ắp đi phía trước, còn Hành Ngọc hai tay gối sau đầu, miệng ngậm cọng cỏ xanh thong dong bước theo sau.
Liễu Niệm đi được một đoạn lại quay lại lườm nàng đầy bi phẫn.
Hóa ra yêu nữ này nhiệt tình rủ cậu đi cùng là để có người làm cu li xách giỏ và nhặt lá hộ.
Hành Ngọc thì cứ ngân nga hát nhỏ, coi như không thấy cái lườm kia.
Trở lại phòng bếp, Liễu Ngộ vừa vặn nhào xong bột.
Trên chiếc tăng bào xám nhạt của chàng dính không ít bột trắng, mu bàn tay cũng lem nhem.
Thấy họ về, chàng đón lấy giỏ lá bồ đề, mang ra bên giếng cẩn thận rửa sạch từng kẽ lá. Sau đó, chàng bắt đầu tước bỏ gân lá.
Hành Ngọc đứng xem hồi lâu, thấy chàng làm việc nghiêm túc như vậy cũng thấy ngại khi chỉ đứng nhìn.
Nàng đi rửa tay sạch sẽ, kéo chiếc ghế nhỏ ngồi đối diện Liễu Ngộ, giúp chàng một tay.
Tước gân lá xong, còn phải băm lá thành bột mịn. Đến bước này, Liễu Ngộ bắt đầu lười, chàng cho toàn bộ lá vào một bình chứa sạch, áp lòng bàn tay vào thành bình rồi truyền linh lực vào trong.
Linh lực xé rách lá cây, chỉ trong vài hơi thở, bên trong đã hoàn toàn biến thành bột mịn.
Hành Ngọc đứng thêm một lúc thì bắt đầu chán, nàng lấy ra một cây ngọc tiêu, tùy ý xoay vài vòng rồi đặt lên môi thổi một khúc nhạc.
Sau khoảng hai canh giờ bận rộn, bánh Bồ Đề cuối cùng cũng ra lò.
Miếng bánh chỉ to bằng nửa nắm tay, vuông vức, màu xanh trong suốt, trông có vẻ rất bình thường. Vì lượng lá và bột nhiều nên Liễu Ngộ làm được tới sáu mươi chiếc, bày la liệt trên bàn.
Hành Ngọc khẽ ho một tiếng, nhìn về phía Liễu Niệm: “Tiểu hòa thượng, đệ thử trước đi.”
Liễu Niệm trợn tròn mắt. Sao mà cậu không hiểu tâm tư yêu nữ này: “Lạc chủ vậy mà dám chê đồ sư huynh ta làm… ưm… ưm…”
Chưa nói dứt lời, cậu đã bị Hành Ngọc dùng Cấm Ngôn Quyết, chỉ có thể há miệng múa may phát ra những tiếng “ưm ưm” nghẹn ngào.
Hành Ngọc nhún vai, giải thích thiếu thành ý: “Ta chỉ muốn tìm người thử xem bánh này có đắng hay không thôi mà.”
“Bồ đề vốn mang vị đắng, bánh làm từ nó sao có thể không đắng được.” Liễu Ngộ trực tiếp tạt gáo nước lạnh.
Hành Ngọc: “…”
Nàng không chần chừ nữa, đưa tay cầm lấy một miếng bánh còn nóng hổi.
Nàng đưa lên miệng thổi nhẹ, ngửi thử mùi hương.
Sắc mặt Hành Ngọc chợt trở nên khó coi, thật thất sách, bận rộn mấy canh giờ mà món bánh này lại tỏa ra mùi cỏ dại nồng nặc.
Nhưng dưới cái nhìn của hai huynh đệ nhà hòa thượng, nàng đành nhắm mắt cắn một miếng.
Vừa vào miệng, một vị chát đắng lập tức lan tỏa trên đầu lưỡi.
Hành Ngọc cố sức nuốt xuống, chân thành khen ngợi: “Đây đúng là bánh Bồ Đề chính tông của Vô Định Tông.”
Vừa cứng vừa đắng.
Chẳng khác gì vị Phật tử kia, cứng nhắc tới mức chẳng biết nên ăn thế nào cho phải.
Cuối cùng, nàng vẫn rất nể mặt mà ăn hết miếng bánh trên tay. Nhưng khi Liễu Ngộ hỏi nàng có muốn thêm miếng nữa không, nàng lập tức lắc đầu nguầy nguậy.
Thế nhưng Liễu Ngộ có vẻ chẳng tự biết mùi vị món mình làm ra thế nào.
Vì chưa ăn trưa nên chàng ăn liền một lúc bốn cái, đến khi thấy no mới dừng lại.
Nhìn chàng ăn ngon lành như vậy, nếu không phải chính mình đã nếm qua, Hành Ngọc còn tưởng đó là mỹ vị trân quý hiếm có trên đời.
Khi trời sập tối, lúc Hành Ngọc chuẩn bị rời đi, Liễu Ngộ còn chu đáo xếp vài miếng bánh vào giỏ cho nàng mang về.
Truyện được edit bởi LenguyenngocThanh 🦋
Trở về sân viện của mình, Hành Ngọc đi thẳng vào thư phòng.
Nàng đặt giỏ bánh sang một bên, trải giấy mài mực luyện chữ.
Đang viết dở thì nàng cảm nhận được có thứ gì đó chạm vào kết giới quanh viện. Nàng phất tay một cái, kết giới mở ra, một con hạc giấy truyền âm bay vào.
Mở hạc giấy ra, hóa ra là tin từ Thành chủ, báo rằng Phạm Trường Bình đã chết.
Đối với Hành Ngọc, kẻ này vốn dĩ đã là một người đã chết từ lâu.
Nàng tùy ý dùng linh lực chấn nát hạc giấy, tiếp tục cúi đầu luyện chữ.
Luyện chữ xong, nàng lấy chiếc hộp ngọc giản kia ra đặt trước mặt.
Mở nắp hộp, nàng lặng lẽ ngắm nhìn chiếc lá bạch quả kim vàng nằm yên trong đó. Nhờ được rót linh lực mà dù đã rụng nhiều ngày, lá vẫn tươi như mới vừa lìa cành.
“Tiếp theo mình phải làm gì mới thực sự lay động được vị Phật tử này đây?” Hành Ngọc khẽ lẩm bẩm.
Hai tháng qua, nàng và Liễu Ngộ ăn miếng trả miếng, vốn là một ván cờ cân não.
Lần này nàng lỡ rơi xuống thế hạ phong, ván sau nhất định phải tìm cách gỡ lại mới được.
![Bìa [SKXTYNTQCLPT] – Chương 20](https://thanhxinhgaiquatroi.wordpress.com/wp-content/uploads/2025/06/cropped-709dce94-6b2d-4a0d-b7b0-305277e52e72.jpeg)