Bìa [SKXTYNTQCLPT] – Chương 18
SKXTYNTQCLPT

[SKXTYNTQCLPT] – Chương 18

Tác giả: Đại Bạch Nha Nha Nha

3483 từ · 16 phút đọc

Sau Khi Xuyên Thành Yêu Nữ, Ta Quyết Công Lược Phật Tử: [SKXTYNTQCLPT] – Chương 18

Trong lúc hai người họ tương tác qua lại, trụ trì chùa Thanh Vân vẫn luôn nhắm mắt, lặng lẽ lần tràng hạt trong tay, dường như mọi chuyện trước mắt đều chẳng hề liên quan đến mình.

Trên ghế chủ vị, Thành chủ thì trợn tròn mắt kinh ngạc, còn tiểu hòa thượng Liễu Niệm thì xấu hổ đến mức hận không thể tự chọc mù đôi mắt mình.

Thế nhưng, hai người trong cuộc lại chẳng mảy may để tâm.

Ở phương diện này, Hành Ngọc và Liễu Ngộ lại hiếm hoi đạt được một sự ăn ý khó nói thành lời.

“Thành chủ.” Hành Ngọc quay sang nhìn người đang ngồi trên chủ vị, giọng nói bình thản, “Người này giao lại cho ngài xử trí.”

Nghe nàng nói xong, Thành chủ vốn còn đang thất thần như hồn lìa khỏi xác mới chậm rãi hoàn hồn.

Ông vội chỉnh lại sắc mặt, đứng dậy chắp tay nghiêm túc:

“Lạc cô nương cứ yên tâm. Triệu Thành chủ nhiều năm qua trừng ác dương thiện, ở cương vị Thành chủ làm việc không hổ thẹn với lòng. Ta tuyệt đối sẽ không để ông ấy chết oan.”

Trong toàn bộ chuyện này, Triệu Thành chủ có thể coi là người vô tội nhất.

Thân là Thành chủ, gặp phải án mạng nghiêm trọng trong địa bàn mình quản lý, lại có chứng cứ rõ ràng, chiếu theo luật pháp, hung thủ kia dù có chết mười lần tám lần cũng chẳng oan.

Ấy vậy mà người chấp pháp theo lẽ công bằng lại phải bỏ mạng vì chuyện đó.

Quả thực không còn gì oan ức hơn!

Chỉ là, sau khi nói xong, Thành chủ lại nhớ tới sư tôn của Phạm Trường Bình – Tiêu Dao Tử.

Hư Không Minh chỉ là một môn phái hạng hai. Lạc cô nương xuất thân thần bí, có thể chẳng thèm đặt Hư Không Minh vào mắt, nhưng ông thì không có bản lĩnh đó để tùy tiện đắc tội.

Nét lo lắng vô thức hiện lên trong ánh mắt Thành chủ.

Hành Ngọc chỉ cần liếc mắt một cái liền hiểu được ông đang e ngại điều gì:

“Thành chủ không cần bận tâm. Chỉ cần truyền tin ra ngoài rằng Phạm Trường Bình đã nhập tà ma, Tiêu Dao Tử sẽ không dám giận cá chém thớt lên đầu ngài.”

Tà ma là kẻ thù chung của cả chính lẫn tà trong Tu chân giới. Tiêu Dao Tử dù có gan lớn đến đâu, cũng không dám làm chuyện bao che đồ đệ, đối nghịch với cả thiên hạ.

Nghe vậy, Thành chủ mới thực sự thở phào nhẹ nhõm.

Ông chắp tay về phía Hành Ngọc, bật cười xòa:

“Là ta nghĩ nhiều để Lạc cô nương chê cười rồi.”

Hành Ngọc bấm tay niệm chú đáp lễ.

Nàng không thèm nhìn Phạm Trường Bình đang quỳ rạp dưới đất thêm một lần nào nữa, trực tiếp nói:

“Trời cũng đã muộn. Chuyện hôm nay coi như kết thúc, ta xin cáo từ trước.”

Dứt lời, Hành Ngọc xoay người rời khỏi phủ Thành chủ.

Sau khi nàng đi, Liễu Ngộ, Liễu Niệm cùng trụ trì cũng lần lượt đứng dậy cáo từ.

Ra khỏi phủ, suốt dọc đường Liễu Niệm đều có vẻ muốn nói lại thôi, thỉnh thoảng lại len lén liếc nhìn Liễu Ngộ.

Cậu tưởng mình che giấu rất kín, không ngờ từ trụ trì cho đến Liễu Ngộ đều đã sớm nhận ra.

Một đường không ai nói gì, thẳng đến khi về tới tiểu viện cư trú.

Liễu Ngộ đẩy cửa phòng mình ra, nghiêng đầu nhìn Liễu Niệm:

“Vào đi.”

“Sư huynh…”

Liễu Ngộ bước vào trước, mở toang cửa sổ gỗ đã khép kín để thông gió.

Liễu Niệm do dự giây lát, cắn răng đi theo vào.

“Có điều gì không hiểu, cứ hỏi thẳng.”

“Sư huynh…” Liễu Niệm lấy hết can đảm, “Vì sao huynh lại dung túng yêu nữ đó như vậy? Rõ ràng huynh biết… biết mà…”

Nói đến đây, giọng cậu dần nhỏ xuống.

Từ nhỏ lớn lên ở Vô Định Tông, cậu chỉ đôi lần theo các sư huynh xuống núi giảng pháp mới tiếp xúc với nữ tử. Nhưng những người đó ai nấy đều một lòng hướng Phật, thái độ cung kính dè dặt, nào có ai dám để sư huynh mình lau vết máu trên mặt như yêu nữ kia.

Liễu Ngộ tìm một ấm nước nguội, rót ra chén trà, đẩy đến trước mặt Liễu Niệm.

“Nếu không hiểu, sao cần phải hỏi nhiều làm chi.”

Liễu Niệm sững sờ:

“Chẳng lẽ… nàng ta thì hiểu sao?”

Liễu Ngộ hỏi ngược lại:

“Hôm nay ở phủ Thành chủ, đệ có nhận ra trong lòng Thành chủ còn điều băn khoăn không?”

Chàng không nhận ra. Liễu Niệm cũng không. Ngay cả vị trụ trì Phật pháp tinh thâm kia cũng không.

Về phương diện thấu hiểu lòng người, Lạc chủ quả thực vượt xa rất nhiều người.

Vậy thì, làm sao nàng không nhìn ra sự dung túng của chàng xuất phát từ đâu?

Tiễn Liễu Niệm rời đi, Liễu Ngộ cầm một quyển kinh thư, tùy tay lật xem.

Nhưng chưa đọc được mấy dòng, tâm trí chàng đã bắt đầu lạc đi.

Chàng hạ mắt, lấy từ nhẫn trữ vật ra một chiếc hộp ngọc mộc mạc.

Nhẹ nhàng mở hộp, bên trong là một chiếc lá bạch quả đang lặng lẽ nằm yên.

Dưới ánh nhìn chăm chú của chàng, những đường gân lá bỗng phát ra ánh sáng nhàn nhạt, óng ánh như sương.

Truyện được edit bởi LenguyenngocThanh 🦋

Lúc này Hành Ngọc đang dạo quanh khu chợ của tu chân giới.

Tòa thành này là nơi phàm nhân và tu sĩ cùng nhau sinh sống, đã có chợ dành cho người thường, dĩ nhiên cũng có khu giao dịch riêng cho tu sĩ.

Dọc con phố, không ít tán tu bày quầy bán đủ loại thư tịch, tài liệu và pháp bảo.

Chỉ là phần lớn đều là tu sĩ Luyện Khí kỳ, đồ họ bày bán đối với Hành Ngọc mà nói chẳng có bao nhiêu giá trị. Vì thế, nàng chủ yếu xem sách, mong tìm được thứ gì đó thú vị.

Ở sạp bên cạnh, bày kín toàn là sách giấy.

Hành Ngọc đi thẳng tới, ngồi xổm xuống, tiện tay nhặt một quyển.

Trên bìa sách, mực đen giấy trắng viết sáu chữ:m Trình Hạo tu chân bút ký.

Cái tên nghe qua khá khí phách. Hành Ngọc mở trang đầu liếc nhìn.

Trình Hạo từ nhỏ mồ côi cha mẹ, trên người chỉ còn lại một di vật duy nhất là chiếc vòng cổ trông vô cùng bình thường do mẹ để lại. Một ngày nọ, Trình Hạo bị thương, máu rơi xuống vòng cổ, vô tình đánh thức thần thú đã ngủ say trăm vạn năm…

Hành Ngọc: “…”

Trước khi mở ra, nàng còn hơi mong chờ.

Kết quả vừa xem đã biết…

Là thoại bản tiêu khiển?!

“Vị tiên tử này, có quyển nào ngài ưng ý không?”

Chủ quán trông chừng mười bảy, mười tám tuổi, tu vi Luyện Khí tầng ba. Quầy hàng của hắn vắng vẻ, thấy có tu sĩ ghé qua liền lập tức nhiệt tình hỏi han.

Hành Ngọc cầm quyển thoại bản trong tay, hỏi:

“Có loại nào kịch bản không đại trà như thế này, mà nội dung thú vị hơn không?”

Nàng đâu phải không thích xem thoại bản.

Chỉ là không thích mấy thứ cốt truyện rập khuôn, đọc đến đâu đoán được đến đó mà thôi.

Ở Tu chân giới, chẳng có ai mấy chục năm liền bế quan không ra ngoài, trong nhẫn trữ vật có vài quyển thoại bản giải khuây cũng không tệ.

Thiếu niên thoáng ngẩn ra, rồi vội vàng gật đầu lia lịa:

“Có, có chứ!”

Trong lúc hắn cúi đầu tìm sách, Hành Ngọc cũng tùy ý quan sát những thư tịch bày trên sạp.

Đa số đều là thoại bản, thỉnh thoảng mới có vài quyển sách cũ rách nát, nhìn qua cũng chẳng đoán ra được viết về thứ gì.

Ở góc khuất sát vách, một quyển thư tịch bìa đã bong tróc loang lổ nằm bên trong.

Lớp bìa ngoài rách gần hết, để lộ ra giấy lót bên trong. Hành Ngọc thoáng liếc qua, mơ hồ trông thấy bốn chữ viết tay to, nét mực đã phai: “A Di Đà Phật.”

Nàng bước lại, khẽ khom người, đưa tay nhặt quyển sách lên.

Ngay khi chạm vào, Hành Ngọc vô thức thả nhẹ lực tay, còn cẩn thận dẫn một tia linh lực bao bọc lấy nó. Trong lòng nàng dâng lên một cảm giác rất kỳ lạ như thể chỉ cần dùng mạnh thêm chút nữa thôi, quyển sách mong manh này sẽ vỡ vụn ngay trong tay.

Lật mở trang đầu, nàng mới phát hiện đây là một quyển du ký.

Sách ghi chép những chuyện mắt thấy tai nghe của một vị hòa thượng pháp danh Viên Tĩnh trong quá trình du hành truyền đạo trong thiên hạ, bên trong còn xen lẫn không ít cảm ngộ tu hành.

Hành Ngọc khẽ cong môi.

Quyển này đưa cho Liễu Ngộ thì quả thực rất hợp.

“Này mấy quyển thoại bản, cộng thêm quyển sách này nữa, tổng cộng bao nhiêu linh thạch vậy?” Nàng ngẩng đầu hỏi.

Thiếu niên cười rạng rỡ, lộ ra chiếc răng nanh: “Một quyển thoại bản hai khối linh thạch hạ phẩm. Còn quyển kia cũ nát quá rồi, tính một khối thôi ạ.”

Rõ ràng trong mắt thiếu niên, quyển du ký này chẳng đáng giá bao nhiêu.

Nhưng Hành Ngọc lại rất rõ, đối với người như nàng, nhất là đối với Liễu Ngộ, những ghi chép tâm đắc của tiền nhân, có khi còn quý hơn cả công pháp bí tịch.

Nàng vuốt nhẹ gáy sách, không hề nhấn mạnh giá trị của nó, chỉ lặng lẽ trả tiền theo lời thiếu niên nói.

Đi ngang tiệm sách, Hành Ngọc còn tiện mua thêm giấy và bút mực.

Kiếp trước nàng từng luyện qua thư pháp, nhưng lúc ấy nàng chỉ xem đó như thú vui trong lúc nhàn rỗi mà thôi. Giờ đến thế giới này, thư pháp mới là chính thống, có thời gian tất nhiên phải luyện lại cho đàng hoàng, tránh sau này chữ viết quá khó coi.

Về tới tiểu viện, nàng mở cửa sổ thư phòng, để ánh hoàng hôn vừa rơi xuống bàn, rồi trải giấy, chấm mực, hạ bút.

“Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch, duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh.”

Xưa nay thánh hiền đều hiu quạnh, chỉ kẻ say mới lưu danh thiên cổ.

Nét chữ liền mạch trôi chảy, như nước chảy mây bay.

Tuy chưa đạt đến độ của các bậc đại thụ thư pháp nhưng cũng có thể coi là hàng trung thượng. Dẫu trước đây nàng chỉ luyện cho vui, nhưng quả thực cũng đã tốn không ít công phu.

Sau khi viết xong bức đại tự đó, Hành Ngọc mới thay bằng loại giấy thường để bắt đầu bài tập luyện của mình.

Khi viết, nàng cố ý rót một tia linh lực vào ngòi bút, để linh lực nương theo từng nét đặt bút mà luân chuyển trên mặt giấy.

Tuy nhiên, trong lần đầu tiên, do kiểm soát linh lực chưa ổn định, tay nàng chỉ khẽ run một cái, tờ giấy đã bị luồng linh lực tràn ra rạch nát.

Hành Ngọc vò nát tờ giấy bị hỏng ném vào sọt, rồi lại tập trung tâm trí khống chế linh lực một lần nữa. Nàng dùng phương pháp này để rèn luyện sự tinh tế trong việc điều khiển sức mạnh của mình, bởi lẽ linh lực trong cơ thể nàng vốn không phải do nàng từng bước khổ luyện mà thành.

Nàng kiểm soát linh lực chưa được thuần thục như nguyên chủ, nên việc vừa luyện chữ vừa rèn luyện tâm pháp thế này quả là một công đôi việc, vẹn cả đôi đường.

Đang tập trung thì tâm trí nàng bỗng thoáng xao nhãng, luồng linh lực trên tay lại trở nên bất ổn.

Hành Ngọc vội vàng thu liễm tinh thần, toàn tâm toàn ý đặt vào từng nét bút.

Mãi đến khi trong phòng tối hẳn, nàng mới đặt bút xuống. Khẽ xoay cổ tay cho bớt mỏi, nàng sắp xếp lại xấp bản thảo đã viết xong rồi mới rời khỏi thư phòng.

Đêm ấy Hành Ngọc không ngồi thiền tu luyện như mọi khi mà nằm trên giường mềm ngủ một giấc thật sâu.

Sáng hôm sau, khi những tia nắng sớm đầu tiên xuyên qua cửa sổ chiếu thẳng lên mặt, nàng mới uể oải với tay lấy cuốn thoại bản đè lên mặt để che bớt ánh sáng.

Nhưng chẳng bao lâu sau, nàng đã hoàn toàn tỉnh táo.

Sau khi sửa soạn xong xuôi, Hành Ngọc quyết định đến chùa Thanh Vân để dùng ké bữa sáng.

Nàng đạp lên lớp nắng sớm trải đầy mặt đất, xuyên qua rừng bạch quả rồi rẽ qua một lối nhỏ là đã thấy thấp thoáng bóng chùa.

Ngôi chùa cổ giữa núi sâu, chuông sớm vang vọng nhịp nhàng.

Cả ngôi chùa bao phủ trong làn khói nhang nghi ngút và sương mù lãng đãng.

Giờ phút này, chùa Thanh Vân trông còn thanh tú, thoát tục hơn cả những chốn động thiên phúc địa của nhiều tông môn khác. Đó là một vẻ đẹp xuất trần, có thể khiến lòng người trở nên tĩnh lặng.

Có tiểu sa di đang cầm chổi quét lá rụng, Hành Ngọc khẽ chào một tiếng rồi đi thẳng vào trong chùa.

Khi đi ngang qua lầu chuông, nàng vô thức liếc mắt nhìn thì bắt gặp một hình bóng quen thuộc đang nhẹ nhàng thỉnh chuông.

Liễu Ngộ vận bộ tăng y màu tro cũ kỹ, khí chất nội liễm sâu sắc. Chàng theo một nhịp điệu cố định mà đẩy vồ thỉnh chuông.

Mỗi khi vồ chạm vào đại chung, tiếng chuông trầm hùng, vang vọng lại lan tỏa khắp không gian chùa chiền.

Từ góc độ của Hành Ngọc, nàng có thể thấy rõ thần sắc của chàng, thành kính và chuyên chú đến lạ thường.

Vị Phật tử của Vô Định Tông này dường như không hề có chút kiêu ngạo về thân phận của mình.

Ngay cả việc thỉnh chuông tưởng chừng bình thường vô vị, chàng vẫn đối đãi bằng một thái độ nghiêm cẩn nhất.

Hành Ngọc bỗng chẳng còn vội vã đến trai đường nữa.

Nàng lặng lẽ đứng dưới gốc bạch quả, chờ cho buổi tu hành thỉnh chuông của Liễu Ngộ kết thúc.

Một lát sau, Liễu Ngộ buông vồ chuông xuống, lùi lại hai bước rồi chắp tay trước ngực khẽ niệm: “A Di Đà Phật”.

Khi chàng xoay người lại, nhìn thấy Hành Ngọc đang đứng cách đó không xa, gương mặt thoáng hiện vẻ ngạc nhiên.

Ban nãy khi thỉnh chuông, chàng có cảm nhận được bóng người đứng bên cạnh, nhưng vì không phóng thần thức ra ngoài nên chàng cứ ngỡ là vị tiểu sa di nào đó đang đứng xem, không ngờ lại là nàng đến sớm như vậy.

Liễu Ngộ bước xuống bậc thềm, vòng qua những bụi cây rậm rạp để đến trước mặt Hành Ngọc.

“Chào buổi sáng, ta định ra trai đường dùng bữa, huynh có muốn đi cùng không?” Hành Ngọc cất lời hỏi.

“Được.” Ngập ngừng một chút, Liễu Ngộ bổ sung thêm: “Chào buổi sáng.”

Dọc theo con đường rải sỏi, hai người đi đến trai đường. Thức ăn ở đây đều là đồ chay thanh đạm, Hành Ngọc lấy một bình sữa đậu nành và hai chiếc bánh bao, tất nhiên là dùng thẻ diện mạo của Liễu Ngộ để lấy phần.

Chọn một chiếc bàn trống trong góc để ngồi xuống, Hành Ngọc hút một hơi sữa đậu nành rồi nhắc lại chuyện hôm qua: “Huynh thấy Phạm Trường Bình kia có đáng chết không?”

Liễu Ngộ chọn cách trả lời gián tiếp: “Hắn đã nhập ma, nếu còn sống sẽ chỉ gây ra thêm nhiều sát nghiệp.”

Hành Ngọc cười híp mắt trêu chọc: “Hai chữ đáng chết khó nói đến vậy sao? Liễu Ngộ sư huynh, ta bắt đầu nghi ngờ huynh đang giả vờ từ bi đấy.”

Chàng nói Phạm Trường Bình sống sẽ gây thêm sát nghiệp, thực chất thâm ý chính là kẻ đó đáng chết. Nhưng chàng lại chẳng chịu nói thẳng ra mà cứ phải vòng vo một chút mới chịu được.

“A Di Đà Phật, bần tăng chỉ là không muốn đem chuyện giết chóc treo nơi đầu môi mà thôi.”

“Ta từng nghe qua một câu thế này: ‘Kim Cang trừng mắt là để hàng phục tứ ma; Bồ Tát rũ mi là để từ bi với lục đạo’. Bồ Tát từ bi, nhưng giết kẻ đáng giết cũng chính là một loại từ bi đối với những người vô tội.”

Sau này Liễu Ngộ còn phải đi chu du truyền đạo khắp đại lục, làm sao con đường ấy có thể mãi bằng phẳng không chút hiểm nguy?

Nàng muốn hoàn thành nhiệm vụ nội môn thì chắc chắn sẽ phải đồng hành cùng chàng. Chẳng lẽ sau này gặp chuyện gì cũng chỉ một mình nàng xông pha giải quyết sao?

Thế nên Hành Ngọc cảm thấy mình cần tốn chút công sức để uốn nắn lại cái tư tưởng cứng nhắc này của Liễu Ngộ.

Chẳng lẽ giết kẻ ác không phải là một loại từ bi sao?

Bất kể đạo lý này có là ngụy biện hay không, miễn là thuyết phục được người thì đều là đạo lý tốt.

Nghĩ vậy, Hành Ngọc nhìn Liễu Ngộ bằng ánh mắt đầy chân thành, chờ đợi phản ứng từ chàng.

Liễu Ngộ giữ im lặng.

Hành Ngọc liền nâng chân phải đá nhẹ vào chân chàng.

Chàng khéo léo tránh đi.

Nàng lại tiếp tục đá.

Liễu Ngộ trực tiếp đứng dậy khỏi ghế dài, chắp tay niệm một câu “A Di Đà Phật”.

Thấy chàng định bưng bát màn thầu sang bàn khác ngồi, Hành Ngọc vội gọi với theo: “Ấy, quay lại đi, ta hứa từ giờ sẽ chỉ động khẩu không động thủ.”

Liễu Ngộ đứng lặng ở đó, dường như đang cân nhắc xem có nên tin lời nàng hay không. Sau vài nhịp thở, chàng mới đặt bát màn thầu xuống rồi lẳng lặng ngồi lại chỗ cũ.

“Chuyện là thế này.” Đối mặt với kẻ dầu muối không thấm này, Hành Ngọc buộc phải kiên nhẫn giải thích tỉ mỉ: “Nếu huynh không muốn tay mình nhuốm máu, sau này gặp nguy hiểm thì tính sao?”

Sợ Liễu Ngộ lại dùng câu thực lực của ta cao cường, không dễ gặp nguy hiểm để chặn họng mình, vì dẫu sao ở đại lục này, tu sĩ Hóa Thần và Nguyên Anh đa phần đều ẩn cư, Kết Đan kỳ đã có thể coi là cao thủ rồi.

Hành Ngọc vội vàng bổ sung:

“Cứ cho là huynh không gặp nguy hiểm đi, nhưng lỡ như là ta gặp nguy, hay tiểu hòa thượng Liễu Niệm gặp nguy thì sao?”

“Huynh không sát sinh là huynh từ bi, nhưng như thế chẳng lẽ không phải là tàn nhẫn với ta và Liễu Niệm sao?”

“Ta không bắt huynh phải để đôi tay nhuốm đầy máu tanh, ta chỉ hy vọng nguyên tắc của huynh có thể linh hoạt tùy theo hoàn cảnh mà thôi.”

Liễu Ngộ cắn một miếng màn thầu.

Chiếc bánh được hấp rất mềm, hương thơm của bột mì lan tỏa đầu lưỡi.

Chàng vừa chậm rãi nhai, vừa trầm ngâm suy nghĩ lời nàng nói.

Ý nàng là, bình thường vẫn giữ trạng thái Bồ Tát rũ mi, nhưng khi gặp hiểm nguy thì cũng phải biết hiện tướng Kim Cang trừng mắt sao?

Chậm rãi nuốt miếng màn thầu xuống, chàng ngước mắt nhìn Hành Ngọc, khẽ khen một câu: “Lạc chủ quả là có tài hùng biện.”

Hành Ngọc nhướng mày: “Vậy là ta thắng rồi chứ?”

Liễu Ngộ khựng lại một chút.

Chàng im lặng hồi lâu, rồi khẽ thở dài: “… Thắng rồi. Về điểm này, bần tăng sẽ cố gắng thay đổi.”

Hành Ngọc không kìm được mà búng tay một cái giòn tan: “Ngoan quá đi thôi.”

Liễu Ngộ chỉ biết bất lực lắc đầu cười trừ.