Bìa [SKSLTGCPT] – Chương 93
SKSLTGCPT

[SKSLTGCPT] – Chương 93

Tác giả: Dư Hà Thích

12386 từ · 56 phút đọc

Sau Khi Sống Lại, Ta Gả Cho Phật Tử: [SKSLTGCPT] – Chương 93

Kiếp trước. Lôi Âm Tự.

Bóng đêm vô biên vô tận đổ xuống, nặng nề đè lên đôi linh thú mỏ diều hâu trên mái Phật điện cao vút. Lớp ngói thú màu đỏ thẫm bị những bông tuyết trắng xóa vùi lấp, rồi lại bị gió đại ngàn thổi thốc đi, lộ ra sắc đỏ bầm tựa như máu đặc.

Trước sơn môn, thân vệ của Thiên tử quỳ thành một dải dài trên những bậc thềm đá đầy tuyết nhuốm đỏ huyết nhục. Họ im lặng như tờ, đăm đắm nhìn về phía đốm sáng yếu ớt như ánh đom đóm nơi phương xa. Đó là ánh nến hắt ra từ đại điện. Một sợi lửa mờ nhạt lọt qua khung cửa sổ hư nát khép hờ, tựa như con thuyền độc mộc giữa đại dương mênh mông, chông chênh sắp đổ, chập chờn lúc tỏ lúc mờ. Giữa cơn gió lộng nồng mùi tanh tưởi nơi biên ải, đốm lửa ấy cuối cùng cũng lịm dần.

Gió lạnh phương Bắc thổi tung vạt áo choàng thêu chỉ kim tuyến của đám tướng sĩ, phát ra tiếng phần phật rợn người. Mọi chuyện xảy ra quá nhanh, nhanh đến mức không ai kịp định thần. Chỉ nghe một tiếng tên xé gió vút qua, ngay khắc trước vị Xu phi nương nương còn đang hống hách uy quyền đã ngã quỵ trước thềm đá, mũi tên cắm ngập giữa ngực, vệt máu lớn loang ra như đóa hoa tử thần nở rộ giữa trời tuyết.

Hoàng đế vừa rồi mặt còn đầy phẫn nộ bỗng như bừng tỉnh khỏi cơn ác mộng, người lao vụt tới. Đôi bàn tay vốn dùng để chỉ huy thiên quân vạn mã nay run rẩy không thôi, hắn gào lên khàn đặc: “Y quan! Y quan đâu rồi!”

Cửa Phật điện cũng rầm rầm mở toang ngay lúc ấy.

Quốc sư từ bên trong bước ra. Chiếc áo cà sa trắng tựa bạch ngọc của chàng còn thê lương hơn cả màu tuyết phủ, gương mặt tuấn lãng còn trầm mặc hơn cả bóng đêm bao trùm vạn vật. Đôi mắt sâu thẳm ấy phản chiếu tuyết trắng và máu đỏ, dường như chẳng còn chỗ cho bất cứ hồng trần tục lụy nào lọt vào được nữa. Thời gian như ngưng đọng, chỉ còn tuyết lớn vẫn rào rạt rơi xuống không ngừng.

Chàng mặc kệ mọi ánh mắt kinh ngạc, mặc kệ sự hiện diện của bậc quân vương, cúi xuống bế ngang Xu phi trong tà hồng y tuyệt mỹ lên, lẳng lặng đi ngược từ sơn môn vào lại trong Phật điện.

Bóng dáng vị đế vương trẻ tuổi đen kịch như tạc vào không trung, mang theo một luồng khí lạnh thấu xương. Hắn từng bước đi xuyên qua đám thân vệ đang quỳ rạp, mũi bảo kiếm trong tay lê dưới đất, vạch ra một đường máu dài ngoằng trên nền tuyết trắng loang lổ. Cửa điện đóng sầm lại, ngăn cách cái lạnh cắt da cắt thịt bên ngoài.

Gió động, kinh kỳ động. Tượng Phật uy nghiêm bất động lặng lẽ nhìn xuống chúng sinh tuyệt vọng phía dưới. Gương mặt đại từ đại bi ấy cứ ẩn hiện, lúc tỏ lúc mờ trong ánh nến chập chờn.

Lý Diệu trong bộ nhung phục chinh chiến, nhìn đăm đăm vào bóng lưng nam nhân đang đứng trước Phật đài, chậm rãi nâng kiếm, kề sát vào cổ người đó.

“Ngươi… làm sao dám?”

Giọng hắn trầm đục vì kiệt sức, khàn đặc như thể bị lửa thiêu cháy cả cuống họng.

“Ngươi làm sao dám!” Lý Diệu gầm lên một tiếng xé lòng.

Tiếng vang run rẩy dội lại trong đại điện mênh mông tịch mịch. Ánh nến đỏ quạch hắt lên gương mặt góc cạnh của hắn, khiến đôi mắt vằn tia máu đỏ rực như đang bốc cháy hừng hực. Đã mấy đêm liền hắn không chợp mắt. Kể từ khi Lạc Sương Mai mất tích bí ẩn trong cung, hắn đã phong tỏa mọi tin tức, phái tinh nhuệ đào sâu ba thước đất quanh Trường An. Mãi đến khi nhận được bức thư tay của nàng, nói rằng nàng đã mê hoặc Quốc sư đưa nàng trốn đi, đang chờ hắn ở Lôi Âm Tự nơi biên ải để đón nàng về.

Hắn đã từng ngỡ rằng, nàng rốt cuộc cũng muốn hồi tâm chuyển ý, quay lại bên hắn.

Lý Diệu lên đường không nghỉ, chạy chết hơn mười con tuấn mã từ Trường An tới Đôn Hoàng để rồi cuối cùng đứng trước Lôi Âm Tự này. Hắn đã tận mắt nhìn thấy ánh nến bốc lên trong điện, nhìn thấy những lớp xiêm y màu đỏ yên chi lướt qua, phiêu tán, in bóng hai người quấn quýt lên ô cửa sổ mỏng manh.

Tiếng nàng trêu đùa, tiếng cười tùy ý và cả tiếng thở nhẹ… từng tiếng lọt vào tai, từng tiếng tựa như nhát đao xẻo vào tim hắn. Vì giữ chút thể diện cuối cùng cho nàng, hắn lặng lẽ chờ ở ngoài. Đợi đến khi nàng bước ra, đối mặt với nghìn trùng binh giáp mà dõng dạc nói:

“Quốc sư giữ giới cực nghiêm, là bổn cung dùng sắc tướng dụ dỗ, dùng mạng người uy hiếp, ép chàng đưa ta rời khỏi Trường An. Chuyện bỏ trốn này, muôn vàn tội lỗi đều đổ lên đầu một mình ta là được.”

Đến lúc này Lý Diệu mới đọc hiểu hết hàm ý trong bức thư tay ấy. Nàng không phải hối hận cầu hắn đón về, mà nàng muốn gánh hết tội nghiệt lên mình để bảo toàn cho nam nhân đã cùng nàng bỏ trốn. Ai có thể ngờ được vị Xu phi vốn không từ thủ đoạn để cầu sinh trong cung, đến giây phút sinh tử lại có thể xả thân vì một người như vậy.

Đáng tiếc thay, nam nhân trước mắt không hề hay biết. Và cũng vĩnh viễn không bao giờ biết được.

Khóe môi Lý Diệu giật giật, bật ra tiếng cười khẽ đầy châm chọc và tự giễu. Thần tử trung thành nhất, can tướng đắc lực nhất lại vì nữ nhân của hắn mà tự tìm đường chết. Còn nữ nhân của hắn, vì một thần tử mà vứt bỏ thể diện của cả hai người, coi mạng sống bản thân như đôi giày rách mà vứt bỏ.

Lý Diệu chậm rãi xoay chuôi đao, ánh hàn quang chiếu lên gương mặt bạch ngọc và đôi mắt sáng tựa tinh tú của Lạc Tương.

“Trẫm không ngờ, ngươi lại động chân tâm với nàng.” Hắn nheo mắt, hạ giọng đặc quánh như dòng suối kẹt dưới lớp băng dày: “Ngươi giúp trẫm rất nhiều, nữ nhân trong cung ngươi muốn chọn ai trẫm cũng có thể ban cho, kể cả Hoàng hậu trẫm cũng chẳng tiếc. Nhưng… duy chỉ có nàng là không thể. Ngươi biết nàng là ai mà? Làm sao ngươi dám!”

Chữ cuối vừa dứt, lưỡi kiếm sắc lạnh đột ngột rung lên, một tia sáng lướt qua, vạt áo trắng ngọc của Lạc Tương lấm tấm những giọt máu, rực lên như hoa mai nở rộ trên tuyết. Cơn giận của đế vương, thây phơi ngàn dặm. Nhưng khi việc đáng sợ nhất đời đã xảy ra, Lạc Tương chẳng còn gì để sợ hãi nữa.

Chỉ một nháy mắt sau, bàn tay không của chàng đã nắm chặt lấy lưỡi đao bên cổ, gân xanh trên cổ tay nổi lên cuồn cuộn như núi non trùng điệp. Máu chảy xuôi theo kẽ tay, nhỏ xuống ống tay áo trắng tinh, nhỏ xuống nền đất xám xịt, tạo thành những vệt đỏ đẹp đến nao lòng.

Lạc Tương coi như không thấy, chàng lạnh lùng mở lời: “Mấy năm qua, Bệ hạ hạ lệnh cho thần đi khắp Tây Vực tìm kiếm hậu duệ Ngô Vương, chẳng qua chỉ là để che mắt thế gian. Không một ai biết rằng, hậu duệ Ngô Vương thật ra đã sớm được Bệ hạ nuôi dưỡng trong thâm cung, trở thành phi tử của người.”

Lý Diệu sững lại, sắc mặt càng lúc càng u ám, ánh mắt sắc lẹm: “Ngươi đã biết nàng là ai, còn dám đưa nàng rời khỏi Trường An?”

Lạc Tương buông ống tay áo loang lổ vết máu, thần sắc đạm mạc như sương khói ngàn năm không đổi nơi Ngọc Môn Quan. Chàng lắc đầu: “Nàng vốn dĩ nên ở lại Tây Vực.”

“Lạc Sương Mai mà ta biết, từ trước đến nay chỉ là một tiểu cô nương tùy hứng làm càn, không phải hậu duệ Ngô Vương gì cả. Nàng có lỗi nhỏ nhưng không mang tội lớn. Ở Tây Vực, nàng có người che chở, nàng có thể quất roi thúc ngựa, khiêu vũ mua vui, tự do tự tại…” Nhắc đến chuyện xưa, gương mặt lạnh lùng của nam nhân thoáng hiện một nét cười nhạt. Nhưng rất nhanh, thần sắc chàng lại trở nên nghiêm nghị: “Nhưng từ khi vào cung, Bệ hạ đã từng thấy nàng có được nụ cười nào phát tự tận đáy lòng hay chưa? Nàng bị phi tần và đại thần mỉa mai, bị người hãm hại, làm gì cũng phải dè chừng, cho đến khi vì để sống sót mà phải trở nên tàn nhẫn độc ác, coi rẻ mạng người…”

Chàng siết lấy lưỡi kiếm ngày càng chặt, cho đến khi một tiếng “rắc” vang lên khô khốc, thanh kiếm gãy làm đôi, chàng lạnh lùng ném mảnh vụn xuống đất.

“Nàng không thuộc về Trường An. Bệ hạ không bảo vệ được nàng mà còn cố chấp chiếm hữu, đưa nàng vào lồng giam hoàng cung, hại nàng cả đời cô độc khổ sở, đến chết cũng không được yên ổn.”

“Nếu nàng có thể trở lại Tây Vực, Hữu Hiền Vương của Bắc Hung sẽ không phát binh, hiểm họa biên cảnh giữa Đại Lương và Bắc Hung tự khắc sẽ tan biến. Tam ca của nàng luôn yêu thương nàng, cũng sẽ không có ai lấy thân phận của nàng ra làm cái cớ để uy hiếp ngai vàng của người. Để đến ngày hôm nay, nàng sẽ không phải chết thảm dưới mũi tên lạnh lùng của người.”

“Từng việc một, đều do sự ích kỷ lạnh lùng, vô tình vô nghĩa của Bệ hạ mà ra. Sai lại chồng sai, sai đến mức không thể cứu vãn.”

“Ngươi câm miệng!” Lý Diệu lao tới, túm chặt lấy vạt áo chàng, đôi mắt như muốn nứt ra, gằn từng chữ: “Cái sai duy nhất của trẫm là năm đó đã yêu nàng quá sâu, cưng chiều nàng quá mức, khiến người ta nhận ra điểm yếu mà muốn dồn nàng vào chỗ chết.”

Nhưng dù là một vị quân vương sắt đá, khi đã yêu một người sâu đậm, sao có thể không để lộ tâm ý? Muốn chiếm hữu, muốn lúc nào cũng có nàng bên cạnh, muốn nàng cười vì mình, muốn đem tất cả tinh hoa thiên hạ dâng tặng nàng chỉ để đổi lấy một ánh nhìn vui vẻ từ nàng.

Đầu ngón tay lạnh lẽo của hắn siết chặt lấy lớp lụa đến ửng hồng, hòa cùng vết máu đông trên áo, càng hiện rõ vẻ bất lực đầy ám ảnh.

“Trẫm không muốn giống phụ hoàng năm xưa, vì cái ngai vàng lạnh lẽo mà lấy danh nghĩa bảo vệ để ghẻ lạnh mẫu hậu, để rồi hại bà phải tự sát trong lãnh cung…” Gương mặt Lý Diệu trống rỗng, vô hồn như kẻ bị rút mất phách. “Ngươi có biết không, năm đó trẫm chạy đến lãnh cung cứu mẫu hậu, tay bà vẫn còn ấm… vẫn còn ấm… Nếu trẫm nhanh hơn một bước, chỉ một bước nữa thôi…”

Hắn lẩm bẩm như kẻ mộng du, dường như lại trở về hình ảnh thiếu niên trước cửa lãnh cung năm nào, cào cấu đến nát cả đôi tay đầy máu mà cửa cung vẫn không mở. Vết máu ấy cứ thế tan vào sắc đỏ rực của cửa cung.

Lý Diệu chậm rãi ngước mắt, ánh nhìn tử khí bỗng rực sáng như những tia lửa đang thiêu đốt: “Cho nên, trẫm càng không! Trẫm muốn cho khắp thiên hạ biết, trẫm đây vô cùng sủng ái nàng…”

Lạc Tương nhìn hắn bằng ánh mắt lạnh lẽo như phủ sương tuyết, dứt khoát ngắt lời: “Nhưng ngươi và phụ hoàng ngươi chẳng có gì khác biệt. Cuối cùng ngươi vẫn giam cầm nàng, và chính tay ngươi đã giết chết nàng.”

Ngón tay Lý Diệu từ từ buông thõng khỏi vạt áo thô, hắn đứng ngẩn ngơ như kẻ mất hồn, thanh âm trầm xuống thấp nhất: “Trẫm không biết… tiến là sai, mà lùi cũng là sai…”

Hắn đứng lặng giữa trời đêm tuyết phủ rất lâu, mười đầu ngón tay đã sớm tê dại vì giá lạnh, ngay cả vết đao cắt sâu nơi lòng bàn tay khi nãy cũng chẳng còn cảm giác đau đớn. Máu tươi xông vào những đường chỉ tay chằng chịt, hắn nhất thời không phân biệt được đó là máu của nàng khi trúng tên, hay là máu của chính mình đang rỉ ra. Hắn chỉ lặng lẽ áp bàn tay đẫm máu lên mặt, vuốt ve từng chút một như muốn tham lam tìm kiếm chút hơi ấm tàn dư của nàng. Rõ ràng xung quanh là cái lạnh thấu xương tủy, nhưng trong lòng bàn tay hắn lại như vẫn còn vương vấn hơi ấm nồng nàn.

Từng vệt máu đỏ bầm chảy dài trên gương mặt trắng bệch, xẻ ngang sống mũi cao thẳng, khiến dung mạo hắn càng thêm phần âm trầm, đáng sợ.

Hồi lâu sau, Lý Diệu cuối cùng cũng dừng lại. Hắn nheo đôi mắt bạc tình, khẽ nở một nụ cười đầy vẻ dịu dàng nhưng lạnh lẽo: “Không sao cả. Trẫm muốn truy phong nàng làm Quý phi, để nàng đường hoàng nhập vào hoàng lăng. Đợi đến trăm năm sau khi trẫm băng hà, sẽ cùng nàng hợp táng chung một quan tài.”

Dưới giọng điệu bình thản như mặt nước hồ thu ấy là một sự cố chấp, điên cuồng và chấp niệm đến tột cùng.

Nói đoạn, Lý Diệu cúi người, định lật tấm áo cà sa đang đắp trên thi thể nàng để nhìn lại dung nhan ấy lần cuối.

“A…” Nam nhân nãy giờ vẫn giữ vẻ im lìm chợt bật ra tiếng cười nhạt đầy vẻ khinh bạc.

“Lúc nàng còn sống còn chẳng nguyện ý ở lại trong hoàng cung của ngươi, sau khi thác xuống hoàng tuyền, sao nàng có thể cam lòng nhập vào hoàng lăng với ngươi được?”

Thanh âm ấy lạnh lùng như ngọc vỡ, từng chữ đâm thấu vào tim gan. Đôi bàn tay Lý Diệu khựng lại giữa không trung, giấu sau lưng mà run rẩy kịch liệt. Hắn ngẩng đầu, chạm phải đôi mắt sâu thăm thẳm không thấy đáy của Lạc Tương, rồi gầm lên một tiếng: “Trẫm là Hoàng đế, là chân long thiên tử! Trẫm còn có kiếp sau với nàng, còn muốn đời đời kiếp kiếp bên nhau!”

“Hoàng đế?” Lạc Tương hỏi lại, đôi chân mày thanh tú khẽ nhíu, giọng nói không chút gợn sóng: “Bệ hạ lẽ nào không biết ngai vàng của mình từ đâu mà có sao?”

“Mấy năm qua ngươi ở bên cạnh trẫm, dốc lòng giúp trẫm củng cố đế vị, bình định bờ cõi, chẳng lẽ tất cả đều là vì nàng?” Lý Diệu lạnh lùng chất vấn.

Lạc Tương rũ mắt, thản nhiên vuốt lại ống tay áo đã loang lổ vết máu: “Ta đã từng nghĩ Bệ hạ thực tâm yêu nàng, bảo vệ nàng. Ta bảo vệ Bệ hạ cũng chính là bảo vệ nàng. Nào ngờ ta đã sai, một sai lầm cả đời không thể cứu vãn.”

Chàng vẫn nhớ rõ mồn một ba năm về trước, khi nàng ngồi trên xe phượng loan khởi hành từ Ô Tư đến Trường An. Chàng đã nhìn thấu bí mật về thân thế của nàng, biết rõ ở cõi Đại Lương này chỉ có vị Hoàng đế ngồi trên ngôi cửu ngũ mới đủ sức bảo vệ nàng một đời bình an. Vì thế, chàng đã xả thân quên mình trong biết bao cuộc biến loạn, giữ vững cái ngai vàng đang lung lay sắp đổ này cho phu quân của nàng.

Nào có ngờ đâu, tường cung lạnh lẽo hóa thành bia mộ, hoàng thành uy nghi lại trở thành nấm mồ chôn vùi một kiếp hồng nhan.

Lạc Tương hơi ngửa đầu nhắm mắt, thanh âm trầm mặc: “Cái ngai vàng này, mấy năm qua ta có thể giữ giúp ngươi, thì hôm nay di nhiên cũng có thể thu nó lại.”

“Đám thân vệ Bệ hạ dày công nuôi dưỡng trong thâm cung kia đã bao nhiêu năm rồi không nếm mùi thực chiến? So với tinh quân ngày ngày đối trận với Bắc Hung của ta thì sẽ ra sao?”

Một câu nói nhẹ tựa lông hồng, nhưng lại như sấm sét nổ vang giữa trời quang trong lòng vị đế vương trẻ tuổi.

“Ngươi!” Lồng ngực Lý Diệu phập phồng kịch liệt vì phẫn nộ, hắn giận quá hóa cười, nụ cười đầy châm biếm: “Ngươi muốn mưu nghịch sao?”

“Vì một cái xác không hồn, vậy mà ngươi lại dám nuôi chí mưu nghịch?”

Lạc Tương cúi xuống nhặt thanh đoạn kiếm dưới đất, lưỡi kiếm sắc lạnh phản chiếu đường nét khuôn mặt thâm trầm, kiên định của chàng. Chàng khẽ nói:

“Vì tâm nguyện của nàng, mưu nghịch cũng chẳng sao.”

Quân thần đã ly tâm, huynh đệ tương tàn đã thành cục diện không thể vãn hồi. Dẫu thân bại danh liệt, gánh tiếng xấu muôn đời thì đã làm sao? Kiếp này chàng hết lần này đến lần khác bị vây khốn trong thân phận, tự mua dây buộc mình, mãi đến khi tận mắt thấy nàng chết ngay trước mặt, chàng mới hoàn toàn bừng tĩnh.

“Ba năm trước, ta đã bỏ lỡ một cơ hội tốt. Hôm nay, ta sẽ không để sai lầm tái diễn lần nữa.”

“Bệ hạ cứ thong thả mà chọn lấy. Ngôi vị hoàng đế ở Trường An này, ngươi rốt cuộc có nỡ lòng buông tay hay không?”

Sự im lặng chết chóc bao trùm lên vạn vật. Một cơn gió vô định thổi tới, ánh nến bỗng vụt tắt, bóng tối vô biên sụp xuống bao trùm đại điện. Hai bóng người đứng lặng trong màn đêm rất lâu, rất lâu, mãi đến khi một người đẩy cửa bước ra ngoài.

Đêm đó, linh cữu của Xu phi Lạc Sương Mai quàn tại Lôi Âm Tự. Khi trời vừa hửng sáng, bên trong Phật điện đột nhiên bùng lên ngọn lửa hừng hực. Ánh kim quang của Phật đà, bảo quan của Bồ Tát, pháp khí của Kim Cang, thần thông của mười tám vị La Hán… tất cả đều chìm trong biển lửa ngút trời. Ngọn lửa lớn cháy ròng rã suốt một ngày một đêm, thiêu rụi tòa Lôi Âm Tự hùng vĩ thành tro bụi, san bằng tất cả dấu vết. Khói đặc vất vưởng mười ngày không tan.

Sau đó, Hoàng đế quay về Trường An, Quốc sư vẫn tiến về Tây Vực bình định biên ải như cũ. Tuyết lớn rơi rào rạt, lặng lẽ chôn vùi tất cả dưới lớp tro tàn nguội lạnh.

Mấy tháng sau, khi tuyết xuân chưa tan hết, khí lạnh vẫn còn vương vấn trên những cành khô, trước sơn môn Lôi Âm Tự xuất hiện một bóng hình quen thuộc. Ngôi chùa nằm giữa núi không tịch mịch, cây khô gặp mùa xuân bắt đầu đâm chồi nảy lộc, mây mù lượn lờ bao phủ như làn khói. Lớp tuyết trắng xóa bắt đầu tan chảy, lộ ra đất khô và những phế tích điêu tàn phía dưới.

Nam nhân mặc bộ kính trang màu đen phong trần, mái tóc đen mới mọc được buộc gọn sau gáy, dưới cằm lún phún râu xanh. Chàng từng bước nặng nề bước lên sơn môn, bước chân chậm chạp, mồ hôi thấm ướt tấm lưng, xát vào những vết thương chưa kịp khép miệng làm máu thấm ra, nhưng lại ẩn khuất trong sắc áo huyền y, không để lại chút dấu vết.

Giữa đống tro tàn xám xịt của Phật điện, một lão tăng mặc bạch y đứng trước tượng Phật bị thiêu hủy, chắp tay trước ngực nhìn chàng. Như thể lão đã đợi chàng từ rất lâu, như thể đã sớm nhìn rõ chàng sẽ đến chốn này.

Lạc Tương đang mang trọng thương trong người, thể lực kiệt quệ, chàng ôm chặt lấy một chiếc hũ sứ trên bàn thờ. Bàn tay loang lổ vết máu nhẹ nhàng vuốt qua mặt sứ lạnh lẽo, chàng lướt qua lão tăng rồi nhàn nhạt nói:

“Ta không còn là người của Phật môn nữa.”

Lão tăng mỉm cười hiền từ: “Ta tên Huyền Độ, là vị tăng dẫn độ nơi bờ giác, đặc biệt tới để triệu thí chủ vãng sinh về Phật quốc.”

Lạc Tương cười nhạo một tiếng: “Nửa đời đầu ta tu Phật, nửa đời sau sa vào sát lục, ngũ giới đều đã phá sạch, sao có thể thành Phật?”

Lão tăng nghiêm nét mặt: “Thí chủ dù không giữ giới luật, nhưng Phật tâm kiên định, lấy thân Kim Cang cứu khổ cứu nạn, độ người độ mình, sao không phải là bồ đề chính quả?”

Nói xong, lão tăng phất ống tay áo rộng, lập tức hiện ra thịnh cảnh huy hoàng của Linh Sơn Đại Lôi Âm Tự. Vượn tiên hiến quả, hươu thần ngậm hoa, Thanh Loan múa lượn, thải phượng hót vang. Tường vân bao phủ vạn dặm, phướn lọng bay phấp phới, Phật Đà cầm hoa mỉm cười giữa tòa sen báu, chư vị Bồ Tát và lực sĩ hội tụ hai bên, pháp tướng trang nghiêm tột bậc. Hai người đứng giữa muôn vàn hào quang, hoa mạn đà la rơi rụng trong tiếng Phạn xướng thanh tịnh, tự tại.

Đó chính là Phật quốc trên cao, Cực Lạc tịnh thổ mà phàm nhân hằng khát cầu, tăng nhân hằng hướng tới.

Lão tăng từ bi cất lời: “Chín kiếp chín đời, nhân quả đã giải, độ tận phàm nhân, ngươi đã công đức viên mãn, có thể quy về Phật đạo.” Thanh âm ấy như tiếng chuông lớn chấn động tam giới, rúng động lòng người.

Lạc Tương hoảng hốt trong giây lát, chàng cúi đầu nhìn hũ sứ trong lòng mình. Nếu chàng thành Phật, nhảy ra khỏi luân hồi đạo, sẽ không còn kiếp sau, vĩnh viễn không còn gặp lại nàng nữa.

Chốc lát sau, Lạc Tương kiên quyết lắc đầu: “Đệ tử còn một người chưa độ, thề không thành Phật.”

Nụ cười trên gương mặt lão tăng tan biến, lão phất tay áo một cái, kim quang tức khắc tan biến, thịnh cảnh Phật quốc chẳng còn dấu vết. Xung quanh vẫn chỉ là ngôi miếu hoang vu sau trận hỏa hoạn tiêu điều. Lão tăng quát lớn một tiếng như sấm nổ:

“Trải qua chín đời, ngươi vẫn còn chấp mê bất ngộ? Thà vi phạm ý chỉ của Phật Đà cũng muốn tham luyến hồng trần tục lụy sao?”

Lạc Tương nhìn xuống rặng núi xa xôi, nơi ráng chiều buông xuống đỏ rực, cuồn cuộn bụi hồng, vạn trượng khói lửa nhân gian hiện lên rõ mồn một trong mắt chàng. Chàng bỗng cười mà nói rằng:

“Lòng này vĩnh viễn không đổi.”

Vị tăng dẫn độ không nói lời nào, lại vung tay áo. Trong phút chốc, dưới chân núi hóa thành địa ngục rực lửa dữ dội. Đó là Vô Gián địa ngục, nơi chúng sinh cực khổ vì si mê mông muội, chìm nổi không thể siêu thoát. Núi đao biển lửa, thân xác nát tan, máu thịt bầm dập, tiếng rên xiết vang tận trời xanh. Gió âm thổi qua thì chết đi sống lại, một đêm trải qua vạn lần sinh tử, một sớm khổ đau nơi đây bằng nhân gian trăm năm ròng rã.

Lão tăng lạnh lùng phán: “Nàng ta tổn hại phạm hạnh của người tu hành, tạo bao sát nghiệp nặng nề, một lòng hướng về điều ác, vốn đã vô phương cứu chữa. Đáng phải vào đường ác quỷ, vĩnh viễn đọa vào Vô Gián địa ngục.”

Nghe thấy vậy, lòng Lạc Tương đau thắt lại như có dao cắt, chàng chậm rãi lau vệt máu bên khóe môi, ôm chặt chiếc hũ sứ, hành lễ Phật môn với lão tăng:

“Địa ngục không trống, thề không thành Phật. Đệ tử nguyện lại nhập luân hồi, độ nàng thêm một đời nữa.”

Lão tăng thở dài, cảnh tượng địa ngục tan thành tro bụi giữa kẽ tay lão. Lão lắc đầu: “Thật sự vẫn không thể nhìn thấu sao?”

Lạc Tương cúi đầu cười khẽ: “Cầu nhân đắc nhân, không oán không hối.” Chàng quỳ xuống dập đầu ba lạy: “Cầu Phật chỉ dẫn, cho đệ tử và nàng lại vào hồng trần.”

Lão tăng nhìn mây núi trôi đi, thở dài một tiếng: “Phương Tây Cực Lạc có thần điểu tên Garuda (Kim Xí Điểu), vì tâm nguyện mà tự gieo mình vào lửa đỏ, sau khi niết bàn thiêu thân sẽ đổi lấy một viên xá lợi lưu ly thuần khiết, có thể thoát khỏi Vô Gián, trùng sinh vào nhân thế. Nhưng… phàm là có cầu, tất phải trả giá.”

Lạc Tương ngẩng đầu chờ đợi. Lão tăng vuốt râu bạc, đầy vẻ nuối tiếc: “Garuda vì một đời lại một đời tắm mình trong nghiệp hỏa, nên mỗi đêm trăng tròn sẽ phải chịu nỗi khổ dục hỏa thiêu thân, khó tiêu nan giải, chỉ có chết mới có thể dứt.”

Lạc Tương rũ mắt, không chút do dự: “Ái dục vốn ở thân ta, đệ tử cam nguyện chịu hình phạt này để đổi lấy kiếp sau cho nàng.”

Khi Lạc Tương ngẩng đầu lên, lão tăng đã biến mất từ bao giờ, chỉ còn tiếng thở dài não nề vang vọng giữa đại ngàn: “Nghiệp chướng, thật là hỉ nộ nghiệp chướng*…”

(Vốn dĩ mình có thể tìm từ để thay cho cụm “Hỉ nộ nghiệp chướng” nhưng mình vẫn quyết định giữ lấy để giải thích nó. “Hỉ nộ nghiệp chướng” có nghĩa là những vui buồn, giận hờn, ái ố của nhân gian, mà nó thực chất chính là một loại “nợ nần” hoặc “tai ách”. Chính vì quá yêu (hỉ) hoặc quá hận (nộ) mà con người ta gây ra những lỗi lầm, để rồi bị trói buộc vào một vòng xoáy đau khổ không dứt được.

Đêm khuya thanh vắng, trăng sáng như bạc, phế tích Lôi Âm Tự một lần nữa bùng lên ngọn lửa lớn. Trong ánh lửa ngút trời ấy, tấm cà sa Phật tử, tăng bào Quốc sư, cho đến bộ huyền y cuối cùng đều hóa thành tro bụi theo gió bay đi. Cả những kinh Phật thuộc lòng trong trí nhớ, đêm dài triền miên nơi vương đình, bóng hình nàng cặm cụi tập viết bên bình phong, nút thắt tình si chưa thể giãi bày, và cả bóng lưng nàng kiên quyết rời đi trước sơn môn… tất cả đều cháy sạch không còn dấu vết.

Cuộc đời phiêu dạt như cát bụi đã đặt dấu chấm hết. Chỉ cầu một kiếp sau.

Ngọn lửa sinh sôi không ngừng, soi tỏ cả hai đời người đầy rẫy trầm luân.

Cách Trường An hai mươi dặm, Lạc Sương Mai giật mình tỉnh giấc sau cơn ác mộng về ngọn lửa rực cháy thiêu đốt tâm can. Người nàng nóng bừng, run rẩy không thôi, trái tim trong lồng ngực đập loạn nhịp liên hồi. Nàng khẽ xoa lồng ngực phập phồng, chậm rãi bước xuống giường. Sau giấc ngủ ngắn ngủi, nàng đã hồi phục được đôi chút sức lực.

Nàng và Trâu Vân dẫn theo Liên quân Tây Vực bôn ba dặm trường từ Đôn Hoàng tới Trường An, tối nay mới là lần đầu tiên nàng được chợp mắt đôi chút. Sương Mai khoác thêm áo, tay cầm roi ngựa bước ra khỏi trướng. Khác với những biên thành đã đi qua, Trường An phòng thủ vô cùng nghiêm ngặt, vạn quân không thể tùy tiện tiến vào. Nàng cần bàn bạc đại sự với Trâu Vân, nhưng dạo gần đây hắn cứ luôn tìm cách né tránh nàng, tốc độ hành quân cũng trì trệ không chút vội vã.

Bên ngoài, ánh trăng sáng tỏ như nước chảy. Đám lính tuần tra đang xì xào chỉ trỏ về phía ánh lửa bập bùng đằng xa. Sương Mai nhìn theo hướng ấy, sắc mặt chợt biến đổi kinh hoàng.

Đó là kỵ binh huyền giáp của người Bắc Hung.

Nàng nhận ra ngay lập tức, đây chính là tinh kỵ từ thành Định Tương ở phía Bắc Trường An kéo tới. Định Tương vốn là trọng trấn biên thùy của Đại Lương, xưa nay do Phiên vương trấn thủ nghiêm ngặt, sao kỵ binh Bắc Hung có thể dễ dàng xâm nhập vào tận đây? Nghĩ đến Lạc Tương vẫn còn kẹt trong thành, nàng sốt ruột lệnh cho thân vệ dắt ngựa, muốn đích thân đi thám thính thực hư.

Trâu Vân bất ngờ xuất hiện chắn lối: “Vương, xin người đừng quá lo lắng, người Bắc Hung chỉ đang nghi binh thôi, tuyệt đối không phải muốn khai chiến đâu.”

Sương Mai siết chặt dây cương, ánh mắt đầy vẻ nghi hoặc: “Sao ngài lại biết rõ dụng ý của họ? Mấy ngày nay vì sao chúng ta lại dừng chân ở ngoại thành, không tìm cách tiến vào trong?”

Trâu Vân ngẩn người ra, rồi lặng lẽ cúi đầu im lặng. Những hành động kỳ lạ của hắn suốt dọc đường đi đã khiến Sương Mai sinh nghi từ lâu. Nàng quất mạnh một roi xuống nền đất, lạnh lùng nói: “Các ngươi rốt cuộc đang giấu giếm ta chuyện gì?”

Trâu Vân mời Sương Mai vào trong trướng, hắn không thắp đèn, như thể muốn mượn bóng tối dày đặc để che giấu đi sự chột dạ trong lòng. Hắn chậm rãi lên tiếng:

“Phật tử trước khi đi đã giao cho thần ba cái túi gấm.”

“Túi thứ nhất được mở ra khi người nhất định đòi rời khỏi Đôn Hoàng để tới Trường An. Bên trong ghi chép tỉ mỉ lộ trình đi vòng qua các thành trì để tránh tai mắt quân triều đình.”

Sương Mai mở mảnh lụa bên trong túi gấm ra xem bản đồ, tức đến mức bật cười thành tiếng. Hèn chi dọc đường đi, những đoạn đường hiểm trở lại hanh thông vô cùng, mà những quan khẩu dễ đi lại tốn đến mấy ngày trời ròng rã. Lạc Tương từng là Quốc sư, chàng thấu hiểu biên thành Đại Lương như lòng bàn tay, Trâu Vân cố tình kéo chậm tốc độ của nàng vì không muốn nàng sớm đến Trường An gặp chàng sao? Hai kẻ này to gan thật, dám hợp mưu trêu đùa nàng!

Nàng nghiến răng, chìa tay ra: “Túi gấm còn lại đâu? Đưa cho ta!”

Trâu Vân vã mồ hôi hột, lúng túng: “Túi thứ hai mở ra khi chúng ta đã đến ngoại thành Trường An. Ngài ấy dặn rằng hễ thấy quân Bắc Hung thì đừng hoảng loạn, đó là quân do Tam vương tử điện hạ phái tới theo lời nhờ vả của Phật tử. Họ xuất hiện chỉ để uy hiếp thế cục chứ không hề có ý khai chiến…”

Sương Mai giật lấy túi gấm, đúng là nét chữ thanh thoát của Lạc Tương không sai vào đâu được. Nhưng tại sao chàng lại mời quân Bắc Hung tới chốn này? Thế cục càng thêm phức tạp, chàng sẽ càng lâm vào cảnh nguy hiểm khôn lường. Nàng nghĩ mãi vẫn không thông mưu đồ thực sự của chàng. So với một Lý thị đã mưu hoạch suốt nửa đời người, Lạc Tương định làm gì để ngăn cản âm mưu này đây?

Nàng lườm Trâu Vân một cái sắc lẹm: “Cái túi cuối cùng đâu?”

Trâu Vân hốt hoảng lùi lại, đầu lắc quầy quậy: “Phật tử đã dặn, túi gấm cuối cùng khi chưa tới lúc tuyệt đối không được mở ra!”

Sương Mai chỉ tay về phía vạn dặm tường thành đang thấp thoáng ẩn hiện trong sương khói mênh mang, thanh âm nghẹn ngào:

“Trường An đã ngay trước mắt, ta sắp nhìn thấy chàng rồi, còn đến lúc nào mới gọi là ‘đúng lúc’ nữa đây?!”

“Ngài nói cho ta hay, khi nào thì mới được mở nó ra?!”

Trâu Vân vẫn im lặng như tờ không đáp lại. Vẻ bất lực thường ngày trên gương mặt hắn giờ đã bị thay thế bằng một sự nghiêm nghị đến đáng sợ. Hắn càng im lặng, đầu càng cúi thấp hơn. Nhìn dáng vẻ muốn nói lại thôi của hắn, một linh cảm chẳng lành xộc thẳng lên đầu, khiến tim Sương Mai thắt lại đau đớn.

Đôi mày rạng rỡ vừa rồi còn vương chút dỗi hờn, giờ đây tan biến sạch sành sanh. Sắc mặt nàng bắt đầu trắng bệch đi từng chút một. Một lúc sau, nàng xòe lòng bàn tay hướng về phía hắn, giọng nói cực kỳ bình tĩnh, bình tĩnh đến mức tựa như mặt hồ chết lặng không một gợn sóng:

“Đưa đây.”

Trâu Vân ngẩn ngơ nhìn khóe mắt đỏ hoe, đẫm lệ của nàng, cuối cùng cũng đành chịu thua. Từ sâu trong lớp giáp lạnh lẽo trước ngực, hắn run rẩy lấy ra chiếc túi gấm cuối cùng.

Chiếc túi này hoàn toàn khác biệt với hai chiếc trước đó. Trên mặt túi không thêu hoa văn mây khói thông thường, mà là một nút thắt dây nhỏ nhắn, quấn quýt lấy nhau như trăm mối tơ vò, đập vào mắt nàng, siết chặt lấy trái tim nàng.

Đôi tay Sương Mai run rẩy kịch liệt. Nàng chậm rãi mở túi gấm, lấy ra một dải lụa dài. Chữ viết trên đó khác hẳn với những túi trước. Mỗi nét chữ đều mang theo lực đạo thâm trầm, khi thu bút thậm chí còn để lại những vệt mực loang nhẹ trên thớ lụa mịn màng.

Ánh nến trong trướng chẳng biết từ lúc nào đã trở nên mờ ảo hẳn đi. Từng chữ trên lụa lọt vào đôi mắt nhạt nhòa lệ của nàng:

Gửi thê tử Sương Mai của ta, thấy chữ như thấy người:

Khi em đọc được những dòng này, có lẽ ta đã mỉm cười nơi chín suối.

Vạn dân Trường An là tâm nguyện suốt đời của ta, còn em… lại là người ta yêu thương nhất trong kiếp nhân sinh này. Thế gian vốn không có chuyện vẹn cả đôi đường. Ta không đành lòng nhìn chúng sinh lầm than, mà cũng chẳng nỡ để em cô độc giữa cõi đời. Nghĩ tới nghĩ lui, đành lấy thân mình làm lễ tế, dùng máu thịt đổi lấy bình yên. Chỉ mong từ nay về sau, chúng sinh trong thiên hạ được an lạc, còn em… cũng có thể tự do tự tại mà sống hết quãng đời này.

Nửa đời ta tu Phật, miệng niệm chúng sinh, lòng hướng thiên hạ. Nhưng nơi sâu thẳm nhất của trái tim này, bao năm qua, vẫn chỉ khắc ghi duy nhất một bóng hình em.

Nhớ năm xưa lần đầu gặp gỡ tại Ô Tư, một điệu múa tuyệt mỹ, một ánh nhìn lướt qua mà tựa như đã hẹn từ muôn kiếp. Vương tự Toa Xa ta từng cùng em kề vai làm bạn, vương thành Cao Xương ta lại cùng em sinh tử có nhau. Dẫu biết kiếp người vốn như mộng ảo, phù sinh chỉ là thoáng mây bay, ta cũng cam tâm vì em mà trầm luân trong giấc mộng ấy.

Sương Mai, em hẳn phải biết, cực lạc lớn nhất trong đời ta không phải là đắc đạo thành Phật, mà là được cùng em quỳ trước cửa Phật, kết làm phu thê, khẩn cầu đời đời kiếp kiếp vĩnh kết nhân duyên. Nhân sinh giữa trời đất bất quá chỉ như một cái chớp mắt. Đến cuối cùng, cũng chỉ còn lại cát bụi xương khô. Vì thế, mong em đừng lấy phu quân làm nỗi nhớ trong lòng nữa. Đời này kiếp này, hãy sống thật viên mãn, thật tự tại.

Năm xưa ở Cao Xương, ta từng dựng một tiểu đình thanh tú. Hậu viện tự tay trồng mười gốc lựu Sơ Lặc, chuồng ngựa nuôi vài thớt hãn huyết bảo mã của nước Đại Uyên. Trong phòng bày sẵn trà bánh Giang Nam thơm ngát, lại lấy ngọc ấm Điền làm án thư, trên đó vẫn còn đặt những quyển thi thư em từng chép cho ta khi ta còn làm Quốc sư.

Ngày xuân, em có thể tựa cửa sổ pha trà. Ngày hạ, em có thể cưỡi ngựa rong ruổi trên thảo nguyên. Ngày thu, bóc lựu đỏ mà ăn. Ngày đông, lại đem tâm sự gửi vào trang sách.

Nếu có một ngày, có cơn gió tự tại thoảng qua mái tóc em, hay một trận mưa bất chợt làm ướt xiêm y dài… thì hãy coi như đó là ta trở về thăm em nhé.

Một đời này, vi phu không hổ với trời đất, không thẹn với quân thân, cũng không phụ thiên hạ. Chỉ phụ bạc mỗi thê tử của ta mà thôi. Nhưng, con đường này là do chính ta lựa chọn, dẫu có chết trăm lần cũng chẳng hề hối tiếc.

Chỉ cầu kiếp sau, đời đời kiếp kiếp, được nắm tay thê tử, cùng nhau rong ruổi ngắm nhìn tất cả phong cảnh của nhân gian như em hằng mong đợi.

Phu quân tuyệt bút.

Nước mắt từng giọt, từng giọt lã chã rơi xuống dải lụa, làm nhòe đi những vệt mực lớn, khiến chữ viết trở nên mờ mịt không rõ. Sương Mai đứng lặng hồi lâu, lệ rơi không dứt cho đến khi hơi nước bao phủ tầm mắt, không còn nhìn rõ vật gì nữa. Những ngón tay cứng đờ của nàng nắm chặt dải lụa mềm mại trong lòng bàn tay.

Nàng bỗng hiểu ra tất cả những nghi vấn từ hai túi gấm trước. Nàng đã biết chàng đến Trường An là để làm gì rồi.

Tấm màn trướng trắng muốt bị gió lớn thổi tung. Xung quanh lặng ngắt như tờ, Trâu Vân đã lặng lẽ lui ra ngoài từ lúc nàng bắt đầu đọc thư. Sương Mai ngẩng đầu, nhanh chóng lau đi nước mắt trên mặt, cẩn thận cuộn dải lụa lại, đặt vào túi gấm, thắt chặt nút dây như cũ.

Nàng gọi Trâu Vân vào, trả lại túi gấm cho hắn cất giữ. Đôi mắt nàng dù vẫn còn vương lệ nhưng lại trong trẻo vô cùng, rực rỡ hơn cả ngàn vạn vì tinh tú trên bầu trời đêm. Nàng nở một nụ cười tuyệt đẹp, dứt khoát hạ lệnh:

“Lập tức khởi hành vào Trường An.”

Truyện được edit bởi LenguyenngocThanh 🦋

Dưới chân hoàng thành Trường An.

Phố xá phồn hoa bậc nhất thiên hạ nay quạnh quẽ tiêu điều, giấy vụn cùng lá khô rải rác nhiều ngày chẳng có bóng người quét dọn. Cửa hàng đóng then cài chặt, nhà dân bít cửa kín mít, lòng người hoảng loạn bất an như ngồi trên đống lửa. Hiếm hoi lắm mới thấy một bóng người qua đường, nhưng cũng chỉ là vội vã lướt qua như bóng ma, chẳng ai dám dừng chân nán lại nửa khắc.

Bởi lẽ ngay phía ngoài thành kia, ba đạo đại quân hùng hậu đã dàn trận vây kín các cửa ô. Cờ hiệu của Tấn Dương vương và Định Tương vương dẫn đầu, cuộn trào như sóng dữ đại dương trong cơn gió lộng. Phía sau là quân Lũng Tây của Thừa Nghĩa công chúa, toàn những biên tướng dũng mãnh thiện chiến, sát khí ngút trời, khí thế chấn động cả một vùng cương thổ.

Thiên quân vạn mã đợi suốt một buổi trưa nhưng chủ soái vẫn bặt vô âm tín, chưa phát lệnh công thành. Mắt thấy mặt trời đã treo cao giữa đỉnh đầu, Định Tương vương Lý Khuê vốn tính tình nóng nảy như lửa không chịu nổi thêm nữa, thúc ngựa tiến đến bên cạnh Lạc Tương mà gằn giọng hỏi:

“Khi nào chất nhi mới định hạ lệnh công thành?”

Lạc Tương khẽ nới lỏng dây cương, thanh âm vẫn nhàn nhạt như khói mây:

“Không vội. Cần phải đợi thêm chút nữa.”

Lý Khuê biết rõ đứa cháu này đa mưu túc trí, bộ dạng thong dong này chắc chắn là đang nắm giữ diệu kế trong lòng, đành phải nén cơn thịnh nộ vào trong lồng ngực. Ông còn chưa kịp quay về trận tiền thì trên thành lâu cao vút của Trường An đã vang lên một giọng nói lanh lảnh, xé tan bầu không khí căng thẳng:

“Bệ hạ có chỉ!”

Đó là nội thị đại thần trong cung ra truyền khẩu dụ. Lý Khuê quay đầu lại, chợt thấy trên gương mặt vốn bình lặng như mặt hồ không gợn sóng của Lạc Tương thoáng hiện một nét cười cực nhạt, như có như không. Ông lập tức bừng tỉnh, đây chính là người mà chàng đang tâm niệm chờ đợi.

Chưa đợi nội thị đọc xong chỉ dụ, Lý Khuê đã vội vàng giật dây cương, phất tay can ngăn:

“Không được. Tuyệt đối không được! Đây chắc chắn là kế thỉnh quân nhập úng*, lừa hổ vào hang. Chất nhi vạn lần không được mắc mưu.”

(*) Thỉnh quân nhập úng cũng giống như câu gậy ông đập lưng ông của bên mình vậy á mọi người, hoặc có thể nói là dùng kế của đối phương để trừng trị ngược lại họ.

Nguồn gốc của nó đến từ một điển tích thời Võ Tắc Thiên. Có một vị quan tên Chu Hưng nổi tiếng tàn ác, chuyên dùng cực hình tra tấn người khác. Khi Chu Hưng bị tố cáo phản nghịch, một vị quan khác là Lai Tuấn Thần đã mời Chu Hưng đi ăn tiệc và hỏi: “Nếu phạm nhân không chịu khai thì làm thế nào?”. Chu Hưng hiến kế: “Lấy một cái chum lớn, đốt lửa xung quanh cho nóng rồi lừa phạm nhân vào trong, chắc chắn sẽ khai”. Lúc đó, Lai Tuấn Thần mới đứng dậy nói: “Có người tố cáo ngài phản nghịch, vậy thỉnh quân nhập úng (mời ngài vào chum)”.

Hoàng đế muốn mời Lạc Tương vào cung diện kiến riêng. Trước sự can gián của thân tộc, Lạc Tương không chút biến sắc, chỉ điềm nhiên thốt lên hai chữ:

“Ta đi.”

Tấn Dương vương Lý Tuyên đứng cạnh đó cười lạnh: “Chất nhi thật là gan to chí lớn. Ngươi cứ yên tâm, chuyến vào cung này cẩu hoàng đế thực sự không dám động đến một sợi tóc của ngươi đâu.”

Lý Khuê còn chưa kịp hiểu tại sao thì thấy Lý thị đã thúc ngựa tới gần, nói nhỏ gì đó với Lạc Tương, khiến những người xung quanh đều phải lùi ra xa. Ở nơi không người, Lý thị nghiến răng, ánh mắt sắc lẹm hỏi:

“Ngươi rốt cuộc định giở trò quỷ gì?”

Lạc Tương không đáp, chỉ hỏi ngược lại một câu thâm trầm: “Chuyến này Công chúa khởi binh, chẳng lẽ không muốn giải oan cho phụ thân và huynh trưởng quá cố sao?”

Lý thị nhìn chàng như nhìn một đứa trẻ ngây ngô chưa trải sự đời, cười khẩy đầy cay đắng: “Nếu không dùng binh đao ép sát, cẩu hoàng đế đó căn bản sẽ không bao giờ cúi đầu đồng ý. Nếu lão khơi lại món nợ cũ năm xưa để giải tội cho người nhà ta, thì cái ngôi vị lão đang ngồi sẽ thành danh bất chính ngôn bất thuận, thiên hạ thái bình sao nổi?”

Lạc Tương đăm đắm nhìn tường thành cao vút trước mắt, đôi mắt khẽ khép lại một nửa, thanh âm kiên định:

“Ta sẽ giúp công chúa đạt được tâm nguyện bấy lâu.”

Dứt lời, không đợi mọi người kịp phản ứng, Lạc Tương đã thúc ngựa lao thẳng về phía cổng thành đang từ từ mở ra đón đợi. Một mình một ngựa đối mặt với ngàn vạn quân binh, khí phách ngang tàng ấy tan vào trong gió bụi mịt mù. Cánh cửa thành nặng nề mở ra một khe hẹp, vừa đủ cho chàng phi ngựa vào. Hai bên nội thành là tầng tầng lớp lớp binh giáp đen kịt như mây đen vần vũ, khiến cửa thành Trường An vốn nổi tiếng rộng lớn cũng trở nên chật chội, ngột ngạt. Quân sĩ ai nấy đều tuốt đao sắc lẹm, ánh mắt cảnh giác nhìn kẻ vừa tới như thể sẵn sàng lao vào xâu xé thành trăm mảnh.

Lạc Tương coi như không thấy, chàng thúc ngựa tiến thẳng về phía cửa cung uy nghiêm. Trước thành cung, cấm quân của Hoàng đế đã dàn trận chỉnh tề, những lớp giáp trụ mới tinh phản chiếu ánh nắng ban trưa chói mắt đến gai người.

Lạc Tương xuống ngựa, hiên ngang bước vào cửa cung. Chàng đi phía trước, phía sau là vô số cấm quân áp sát theo sau, tiếng vũ khí va chạm lạch cạch vang vọng trong vòm cổng sâu thẳm thâm nghiêm. Lạc Tương sải bước trên những bức tường thành nhuộm màu sơn đỏ quen thuộc, đi giữa chín tầng cung khuyết mà lòng không chút bi ai hay mừng rỡ, sắc mặt chẳng hề thay đổi. Con đường này, kiếp trước chàng đã đi qua đi lại nghìn vạn lần, dẫu có nhắm mắt cũng không sai lấy một bước chân.

Trong cung vắng lặng tiêu điều, không thấy dấu chân người, chỉ có toán binh giáp đen kịt bám đuổi sau lưng chàng như một làn thủy triều đen ngòm muốn nuốt chửng một điểm đen cô độc phía trước. Bước lên những bậc thềm bạch ngọc lấp lánh, một tay Lạc Tương khẽ vén vạt áo, hiên ngang bước lên đan bệ trước Cần Chính Điện. Dáng vẻ cử chỉ ấy, phong thái ung dung ấy, giống hệt vị Quốc sư dưới một người trên vạn người năm nào.

Lạc Tương đứng cách ngự án đúng mười bước chân, nhìn thẳng phía trước không chút kiêng dè. Vị hoàng đế đã bước sang tuổi ngũ tuần hơi ngửa người ra sau chiếc ghế rồng chạm trổ tinh xảo, đôi mày nhíu chặt đánh giá thanh niên vừa hiên ngang vào điện. Khí thế của một người này vậy mà áp đảo được cả hàng ngàn cấm quân đao kiếm tuốt trần xung quanh. Diện mạo này, khí độ này, khiến lão đột nhiên nhớ tới một cố nhân đã khuất.

Nhưng lúc này hoàn toàn không phải lúc ôn chuyện cũ. Hoàng đế đan hai tay đặt lên án rồng, mở lời phá vỡ sự im lặng:

“Ngươi chính là cốt nhục của hắn? Ngươi không sợ trẫm lừa ngươi vào cung rồi lệnh cho đao phủ chém đầu ngay tại chỗ sao?”

Dứt lời, thị vệ đeo đao rầm rập ập tới, lưỡi đao sắc lạnh kề sát cổ, sáng loáng đến lạnh người. Lạc Tương không tránh không lùi, đứng sừng sững tựa Thái Sơn:

“Từ cửa cung đến Cần Chính Điện này, dọc đường đều mai phục tầng tầng lớp lớp cung thủ, nếu Bệ hạ muốn lấy mạng thần thì đã ra tay từ lâu rồi.”

Hoàng đế phất nhẹ tay, thị vệ lập tức thu đao lui xuống trong lặng lẽ. Lạc Tương tiếp tục:

“Thần có thể chết trận khi công thành, có thể bị ám sát khi hai quân giao chiến, nhưng tuyệt đối không thể bị Bệ hạ giết chết tại nơi này.”

“Thần mà chết trong cung, quân phản loạn ngoài kia càng có cớ chính đáng để nhất cử công thành, đoạt lấy ngai vàng của người.”

Thấy chàng nhìn thấu tâm can mình, Hoàng đế nheo đôi mắt già đời, những nếp nhăn nơi khóe mắt hiện rõ mồn một, lão trầm giọng:

“Vậy ngươi đơn thương độc mã đến đây để đòi cái gì?”

Lạc Tương khẽ nhếch môi. Vây thành không đánh chính là lễ ra mắt của chàng. Hoàng đế là người kinh qua trăm trận mạc, thấy được thành ý thầm kín ẩn sau binh đao ấy nên mới hạ chỉ mời chàng vào cung, đó là nhận chiêu thứ nhất. Chàng ngẩng cao đầu, nhả từng chữ đanh thép:

“Một bản chiếu thư tự nhận lỗi về vụ án oan sai của Ngô Vương năm ấy.”

Hoàng đế rơi vào im lặng, thần sắc bỗng trở nên lạnh lẽo như băng. Lão cười khẩy một tiếng. Dù không sợ binh đao, nhưng kẻ này rốt cuộc vẫn là ngựa non háu đá, dám to gan làm loạn đến mức này. Lão gằn giọng:

“Trẫm có tội gì mà phải tự trách mình? Ngươi lấy quyền gì, tư cách gì mà dám ra lệnh cho trẫm viết chiếu thư nhận tội?”

Viết chiếu thư nhận tội chẳng khác nào công khai thừa nhận năm xưa mình đã sai lầm, ngôi vị có được là bất chính. Từ xưa đến nay, lỗi lầm của đế vương nhiều không kể xiết, nhưng có mấy ai cam tâm viết chiếu thư nhận tội? Thật là chuyện kinh thiên động địa hiếm thấy trên đời. Uy nghi của bậc Thiên tử ép thẳng xuống người Lạc Tương, nhưng chàng vẫn giữ vẻ bình thản như không:

“Bởi vì hoàng thành nay đã không còn binh lực để đánh, và cái ngai vàng của Bệ hạ cũng không thể đợi thêm được nữa.”

Một câu nói nhẹ nhàng nhưng tựa sấm sét nổ vang giữa trời quang. Sự hốt hoảng lóe lên rồi biến mất trong chớp mắt trên mặt Hoàng đế, nhưng nỗi kinh hoàng trong lòng lão thì không cách nào xua tan. Lão vừa huy động tất cả cấm quân và cả nội thị cải trang tinh vi để hộ tống kẻ này vào cung, lẽ ra không thể nào nhìn ra sơ hở. Vậy làm sao kẻ này biết được hoàng thành thực chất đã kiệt quệ, không còn sức chống trả quân phản loạn bên ngoài?

Hoàng đế rũ mắt, lập tức hiểu ra mình đã để lộ sơ hở chí mạng. Kẻ này vây thành không đánh là kế trong kế, là lần thử thách thứ hai đầy hiểm hóc. Nếu Hoàng đế nắm chắc phần thắng trong tay, lão sẽ không bao giờ hạ mình mời chàng vào cung để tốn lời vô ích. Việc lão bằng lòng cho chàng vào điện là dấu hiệu rõ ràng của sự yếu thế, là khát khao muốn hòa đàm.

Chỉ bằng một màn thử thách điệu nghệ, chàng đã nắm thóp được thực lực hư thực của hoàng thành và nhìn thấu lớp ngụy trang cuối cùng của bậc quân vương. Giây phút này, Hoàng đế ngồi thẳng người dậy, gương mặt lạnh lùng như bị bao phủ bởi bóng tối đặc quánh. Một sự thăm dò không lời kéo căng như dây cung, chỉ chờ một cơ hội nhỏ nhoi là sẽ đứt đoạn.

Lạc Tương không hề né tránh ánh mắt đe dọa đầy uy lực của lão, chàng thẳng thừng tuyên bố:

“Bệ hạ, thần đến đây không phải để đàm phán thương lượng. Chiếu thư nhận tội ban ra, phản quân sẽ lập tức lui binh. Chiếu thư không ra, ngai vàng của Bệ hạ e là khó lòng giữ vững.”

“Sử sách vốn dĩ do kẻ thắng viết lại. Đến lúc đó thiên hạ đổi chủ, tân hoàng cũng sẽ tự tay soạn ra một bản chiếu thư nhường ngôi và tự nhận lỗi thay cho Bệ hạ mà thôi. Khi ấy, mọi công trạng của người trong triều đại này sẽ bị xóa sạch, sự thật năm xưa cũng bị bóp méo không thương tiếc.”

“Đằng nào cũng vậy, món nợ này tính toán thế nào cho có lợi, Bệ hạ chắc chắn rõ hơn thần nhiều.”

Hoàng đế ngước mắt, lần đầu tiên lão lặng lẽ nhìn thật kỹ nam tử đang thản nhiên tự tại trước mặt mình, thấp giọng gằn lên:

“Nhãi ranh! Ngươi dám ngang nhiên uy hiếp trẫm?”

“Trẫm không sợ hậu thế viết lại sử sách ra sao, càng không sợ tiếng xấu muôn đời vạn kiếp. Ngươi đơn thương độc mã tiến cung, trẫm có thể hạ lệnh giết ngươi ngay lập tức để diệt trừ hậu họa.”

Ánh mắt Lạc Tương càng thêm phần lạnh lẽo, chàng đáp trả:

“Nếu thần chết trong thâm cung này, việc bình định của Bệ hạ chỉ càng thêm khó khăn gấp bội phần mà thôi.”

“Nếu một canh giờ sau thần chưa mang theo bản Chiếu cáo nhận tội của Bệ hạ ra ngoài để công bố với thiên hạ, quân phản loạn sẽ lập tức tràn qua cửa cung, huyết tẩy hoàng thành, kết cục khi ấy không ai có thể xoay chuyển.”

Hoàng đế nổi trận lôi đình, đập bàn quát lớn: “Loạn thần tặc tử! Ngươi cũng dám mưu toan dòm ngó ngôi vị hoàng đế sao?!”

Lạc Tương vẫn giữ vẻ bình tĩnh đến đáng sợ:

“Cái gọi là loạn thần tặc tử, vốn cũng đều là những trung thần lương tướng vì quốc vì dân năm xưa. Nếu không phải Bệ hạ nhất quyết khư khư giữ lấy ý mình, sao có thể gieo họa ngày hôm nay? Gieo nhân nào gặt quả nấy, báo ứng nhãn tiền ngay trước mắt. Đạo lý hiển nhiên như vậy, là Bệ hạ thực tâm không hiểu, hay căn bản không muốn đối diện để sám hối?”

Hoàng đế đứng bật dậy khỏi long án, ánh mắt sắc như dao quét qua thiếu niên có tư thái đĩnh bạt giống hệt cố nhân năm ấy, cười lạnh:

“Ngươi chính là báo ứng mà phụ vương ngươi phái tới để đòi nợ trẫm sao?”

Lạc Tương lắc đầu: “Thần chỉ là một giọt nước nhỏ giữa biển cả mênh mông mà thôi. Ngày hôm nay, thần tới đây là để đòi lại công bằng cho hàng ngàn hàng vạn con người bị vu hãm oan khiên năm xưa.”

“Vụ án Ngô Vương năm ấy liên lụy quá rộng, máu chảy thành sông. Có những đứa trẻ mới lên ba để chỏm, có những thiếu nữ đang tuổi trăng tròn chờ gả, chỉ vì một lời phán của người mà vận mệnh của tất cả đều bị đảo lộn hoàn toàn. Họ và con cháu đời đời kiếp kiếp phải chịu khổ hình, vĩnh viễn không có ngày bình yên.”

Chàng bỗng nhớ đến nàng, trái tim khẽ thắt lại.

Cuộc đời nàng đã hoàn toàn đảo điên vì vụ án oan uổng năm ấy. Nàng vốn dĩ phải là viên minh châu được song thân nâng niu trên tay, vậy mà cuối cùng lại chịu cảnh phụ mẫu song vong, đơn thương độc mã lưu lạc nơi cát bụi Tây Vực, nếm trải hai đời khổ ải lầm than. Mỗi khi hồi tưởng đến việc thiên hạ vẫn còn bao nhiêu linh hồn cũng chung cảnh ngộ như nàng, lòng chàng lại cuộn trào sóng dữ, uất nghẹn khôn nguôi.

Ánh mắt Lạc Tương xoáy sâu vào đối phương không rời, lồng ngực khẽ phập phồng theo từng nhịp thở, chàng cất giọng đanh thép:

“Bệ hạ dẫu quý vì đế vương, gánh vác trách nhiệm bảo tồn quốc tộ, mưu cầu phúc lợi cho thương sinh, nhưng người hoàn toàn không có quyền lợi, cũng chẳng đủ tư cách để tùy ý xoay chuyển vận mệnh của bất kỳ ai.”

“Vận mệnh của vạn dân trăm họ vốn không nên bị định đoạt bởi một ý niệm nhất thời của bề trên. Bản chiếu thư này, vốn là món nợ mà Bệ hạ đã nợ họ suốt mấy chục năm qua, là lời công đạo mà người còn thiếu nợ cả thiên hạ này.”

Chân lý dù có đến muộn màng, nhưng cuối cùng cũng phải hiện diện giữa thế gian.

Trong đại điện, sự im lặng bao trùm đến đáng sợ, tựa hồ nghe được cả tiếng kim rơi. Tấm rèm thêu hình Thương Long hàm châu phất phơ trước gió, thân rồng uốn lượn trên mặt lụa như muốn thoát xác bay lên. Hoàng đế đứng lặng tại chỗ, lão bỗng bật cười lên một tiếng, rồi lại thêm một tiếng nữa đầy vẻ thê lương. Lão khẽ khom người ho khan vài tiếng, rồi mới trầm đục cất lời:

“Ngươi nói năng hùng hồn lắm, trẫm suýt chút nữa đã bị ngươi thuyết phục rồi.”

Lão miết nhẹ chiếc nhẫn ban chỉ bằng hắc ngọc trên ngón tay vào đầu rồng chạm nổi ở góc long án, cúi đầu cười nhạt:

“Nhưng bản chiếu thư này một khi vừa ban ra, quân phản loạn ngoài kia liệu có thực sự lui binh hay không? Trẫm làm sao có thể tin lời ngươi được chứ? Một khi trẫm hạ bút viết xuống, chỉ cần ngươi còn sống trên đời ngày nào, thiên hạ chắc chắn sẽ có hàng vạn kẻ vì ngươi mà xông pha tên đạn, tìm đến lung lay giang sơn xã tắc của trẫm ngày nấy.”

“Hôm nay họ lui binh, nhưng lỡ như có ngày sau thì sao? Trẫm tự tay trao chuôi đao vào tay ngươi, vậy trẫm còn con đường lui nào nữa?”

Lạc Tương đã sớm nhìn thấu tâm can hiểm độc của vị quân vương này. Câu trả lời, chàng đã định sẵn từ lúc bước chân vào cửa cung. Trên gương mặt tĩnh lặng như mặt nước hồ thu bấy lâu của chàng rốt cuộc cũng hiện lên một nụ cười bình thản lạ kỳ:

“Chiếu thư vừa hạ, thần có thể khiến phản quân buông bỏ vũ khí ngay lập tức.”

“Và sau đó, thần sẽ tự kết liễu ngay trước mặt ba quân thiên hạ, đảm bảo hậu họa Ngô Vương từ nay vĩnh viễn chấm dứt. Bệ hạ vẫn tọa vững ngôi cao, sử sách vẫn sẽ lưu danh người. Từ nay về sau, nhân gian không còn hậu duệ Ngô Vương, cũng chẳng còn ai có thể uy hiếp đến long ỷ của người nữa.”

Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, Hoàng đế ngỡ như đôi tai mình đã nghe lầm. Lão nhìn nam nhân trước mặt bằng ánh mắt phức tạp khôn lường, như đang nhìn một ảo ảnh không có thật giữa cõi trần ai. Mấy chục năm đắm mình trong bể dục quyền mưu đen tối, lão không ngờ lại có ngày được tận mắt chứng kiến một người có tâm hồn trong trẻo tựa lưu li, trong ngoài đồng nhất đến mức này.

Hoàng đế thu lại vẻ kinh ngạc, nhìn chằm chằm vào chàng để tìm kiếm một tia sơ hở:

“Ngoài thành có mười vạn đại quân sẵn sàng trợ chiến, ngôi vị cửu ngũ đối với ngươi dễ như trở bàn tay. Vậy mà ngươi chỉ cần một bản chiếu thư nhận tội, rồi lại cam tâm dùng chính mạng sống để đánh đổi?”

Chấp nhất đi một quân cờ diệu kế, để rồi nhận lấy kết cục hoàn toàn trắng tay? Đây đâu chỉ là cuộc mua bán lỗ vốn, mà là đem cả sinh mạng ra đặt cược cho một điều hư vô.

Lạc Tương khẽ nhếch môi, nụ cười mang theo vẻ tự giễu:

“Bệ hạ không có đường lui, vậy chẳng lẽ thần đã từng có đường lui sao?”

“Nơi thần đang đứng vốn là mảnh đất của kẻ mưu nghịch, đời này kiếp này vĩnh viễn là một nhà tù không lối thoát. Nguyện từ nay về sau, có thể rời xa những tâm cơ ác độc này, thoát khỏi ngục tù vĩnh hằng này.”

Cái danh xưng hậu duệ Ngô Vương giống như một mồi lửa âm ỉ. Chỉ cần chàng còn sống, sẽ có những kẻ rắp tâm lợi dụng thân phận này để gây ra binh đao khói lửa, hòng đạt được những mục đích đen tối của riêng họ. Chỉ cần nghĩ đến cảnh nàng và chúng sinh bá tánh sẽ vì thế mà rơi vào cảnh lầm than, chàng liền ăn không ngon ngủ không yên.

Chàng phải vì nàng, vĩnh viễn thoát khỏi cái ngục tù Vô Gián này. Chàng cũng phải vì thiên hạ, vĩnh viễn dập tắt ngọn lửa chiến tranh mang tên “hậu duệ Ngô Vương”.

Nghe thấy vậy, Hoàng đế quay lưng đứng lặng, nhìn những đám mây đen đang đè nặng trên những mái ngói thú của cung điện uy nghiêm. Trải qua một hồi lâu, lão mới chậm rãi quay lại bàn, đứng yên không động đậy. Lão nội thị thân cận nhanh tay lẹ mắt mài mực cho lão.

Hoàng đế cúi đầu, nhấc một ngọn bút lông sói không chút tạp sắc, chấm đẫm vào nghiên mực, dừng lại một nhịp để mực thấm đều vào thớ bút. Cuối cùng, lão đặt bút viết xuống những dòng chữ nặng nghìn cân.

Sau khi bản chiếu thư nhận tội đã hoàn tất, Lạc Tương cùng nội thị truyền chỉ rời khỏi Cần Chính Điện.

Hoàng đế đứng lặng trước long án, hồi lâu không nói thêm lời nào. Lão nội thị lo sợ phập phồng, vừa thu dọn thư án vừa thấp giọng hỏi: “Nếu họ cầm được chiếu thư này nhưng lại lấy đó làm cái danh nghĩa để công thành, thì phải làm sao đây?”

Hoàng đế cười nhạt, khẽ lắc đầu.

“Hắn sẽ không làm vậy đâu.” Giọng lão trĩu nặng như một tiếng thở dài, mang theo vài phần thẫn thờ, vài phần tiếc nuối: “Bởi lẽ hắn khinh thường những mưu hèn kế bẩn đó.”

Hoàng đế dường như cũng đã mệt mỏi rã rời, lão ngồi thụp xuống ghế rồng như kẻ vừa kiệt sức. Gương mặt lão lộ ra vẻ mê mang, cuối cùng không nhịn được mà hỏi nội thị:

“Ngươi có thấy hắn không hề giống Ngô Vương, mà trái lại cực kỳ giống người kia không? Thậm chí, còn giống hơn cả Diệu nhi nữa…”

Lão nội thị sững sờ, vội vàng cúi thấp người xuống. Người mà Hoàng đế nhắc tới chính là Phế hậu trong lãnh cung năm xưa, là điều cấm kỵ, là vảy ngược của Hoàng đế mà hễ ai dám chạm vào tất sẽ phải mất đầu.

Nhưng quả thật dung mạo của hai người quá đỗi giống nhau. Ngay từ lúc chàng bước chân vào điện, lão đã nhận ra ngay lập tức. Đặc biệt là đôi mắt ấy, cùng một vẻ thanh minh thấu hiểu mọi sự, cùng một sự chấp nhất và kiên định không gì có thể lay chuyển nổi. Thần thái ấy thậm chí còn giống hơn cả diện mạo bề ngoài.

Lão nội thị vùi đầu, không dám hé răng trả lời nửa lời. Không nhận được đáp án, Hoàng đế như già đi thêm mười tuổi, mái tóc bạc trước thái dương phản chiếu ánh mặt trời trắng xóa lạnh lẽo. Lão chắp tay sau lưng, nhìn theo bóng dáng trắng ngọc đang xa dần, khuất sau những bức tường thành đỏ rực như máu.

“Một thiếu niên có khí thế sắc bén và thuần túy mãnh liệt như thế, nếu là con của trẫm thì thật tốt biết bao.”

Truyện được edit bởi LenguyenngocThanh 🦋

Trên thành lâu Trường An, tinh kỳ phần phật tung bay trong gió lộng.

Các đại thần Đại Lương và nội thị truyền chỉ đứng giữa những tường chắn mái, hướng về phía thiên quân vạn mã đang vây kín phía dưới, dõng dạc đọc vang từng chữ trong bản Chiếu cáo nhận tội còn thơm mùi mực mới.

Trong đám đông, bắt đầu vang lên những tiếng nức nở kìm nén. Chỉ một lát sau, tiếng khóc ấy hóa thành tiếng khóc than vang động cả trời đất, lan tỏa rộng khắp tựa như thủy triều dâng.

Trong hàng ngũ đại quân kia, có biết bao nhiêu tướng sĩ từng bị vụ án Ngô Vương liên lụy đến mức tan cửa nát nhà? Những người tội nhẹ thì bị đày đi Bắc Cương hay Tây cảnh, bắt đầu kiếp sống từ những tên lính quèn thấp kém nhất. Vì vết xăm chữ “nghịch” trên mặt mà họ bị sỉ nhục, bị chửi rủa là kẻ nghịch thần tặc tử. Cả đời họ đã hoàn toàn thay đổi chỉ vì một lời phán quyết của đế vương.

Khi âm cuối của bản chiếu thư vừa dứt, nội thị cung kính cuộn bản thánh chỉ bằng lụa vàng lại, hai tay nâng cao dâng cho Lạc Tương. Lạc Tương cất kỹ chiếu thư vào trong tay áo, bước xuống thành lâu, đi thẳng ra ngoài cửa thành.

Lý thị lập tức vọt tới, cười lớn đầy vẻ cuồng loạn: “Chúng ta đã có bản chiếu thư này trong tay, hôm nay danh chính ngôn thuận, chính là lúc để báo thù rửa hận cho tộc nhân đã khuất!”

Lạc Tương lướt qua bà ta, không thèm liếc mắt lấy một lần, hướng về phía đại quân trước trận mà cao giọng hạ lệnh:

“Toàn quân lui binh!”

Lý thị sững sờ tại chỗ, sắc mặt dần dần trở nên lạnh lẽo như băng, bà ta quát mắng: “Ngươi đang nói cái gì vậy? Cơ hội ngàn năm có một thế này, quân tâm đang sục sôi, sao có thể lui binh được? Còn không mau hạ lệnh công thành, ngươi định lâm trận bỏ chạy sao?”

Lạc Tương nhạt giọng đáp: “Ta chưa bao giờ hứa với ngài rằng sẽ đánh vào Trường An. Tâm nguyện duy nhất của ta trong chuyến đi này, chẳng qua chỉ là muốn đòi lại một công đạo cho những người vô tội chết oan trong vụ án Ngô Vương mà thôi.”

“Công đạo sao?” Lý thị che miệng cười khẩy, trang sức bằng vàng trên đầu rung lên bần bật: “Công đạo nhân tâm đã chết rấp từ hai mươi năm trước rồi. Người chết rồi có thể sống lại được không? Cái công đạo đến muộn màng như thế này thì còn gọi gì là công đạo nữa?”

Bà ta áp sát vào Lạc Tương, đắc ý thì thầm vào tai chàng: “Chỉ cần ngươi còn ở trong tay ta, cái ‘công đạo’ này, ta nhất định sẽ dùng máu tươi của lũ chúng nó để bắt phải hoàn trả lại gấp bội.”

Nói xong, Lý thị đột nhiên xoay người lại, hướng về phía hai vị phiên vương cùng đại quân mà hô lớn:

“Các ngươi còn đứng ngây ra đó làm gì? Bắc thang mây lên, đốt hỏa pháo, lập tức công thành cho ta!”

Lạc Tương khẽ thở dài, thanh âm u uẩn: “Ta sẽ không để ngài toại nguyện đâu.”

Chàng chậm rãi giơ tay, hướng về phía thành lâu cao ngất mà thổi một tiếng huýt sáo dài vang vọng. Đây chính là nước cờ cuối cùng trong ván cờ của chàng, là khế ước huyết thống chàng đã lập cùng một người chung dòng máu, vĩnh viễn không bao giờ bội ước. Vòng tròn nhân quả này cuối cùng đã khép lại, vạn sự viên mãn.

Sau tiếng huýt sáo ấy, đất trời dường như rơi vào tĩnh lặng trong một khoảnh khắc. Ngay sau đó, một tiếng xé gió đanh thép phát ra từ dây cung cực mạnh chấn động không gian. Một mũi tên mang theo ánh bạc xé toang chân trời bắn tới, nhanh như chớp giật, mạnh tựa cuồng phong. Cuối cùng, khi thiên quân vạn mã còn chưa kịp định thần, mũi tên ấy đã đâm xuyên thấu lồng ngực Lạc Tương.

Máu tươi bắn tung tóe nhuốm đỏ vạt áo trắng ngọc, Lạc Tương rốt cuộc cũng mỉm cười thanh thản, tựa hồ vừa trút bỏ được gánh nặng nghìn cân trên vai. Mưu kế sau cùng của chàng chính là chết ngay tại chỗ trước mặt muôn vạn người.

Có như thế, thế gian mới tin rằng hậu duệ cuối cùng của Ngô Vương đã vĩnh viễn tạ thế.

Có như thế, mới không còn kẻ nào có thể lợi dụng thân phận này để khuấy đảo phong ba bão táp thêm lần nữa.

Và có như thế, nàng mới không bị thân thế xiềng xích làm khổ, đời này kiếp này có thể sống một đời viên mãn tự tại giữa đất trời bao la.

Lạc Tương cảm thấy cơ thể nặng trĩu dần, lực va chạm kinh người khiến chàng lảo đảo không đứng vững, chiếc kết Đồng Tâm luôn treo bên hông cũng tuột ra, rơi thõng xuống bụi đất mịt mù. Ngay khoảnh khắc chàng sắp ngã xuống, Định Tương vương Lý Khuê đã phi thân xuống ngựa, kịp thời dang tay đỡ lấy thân hình đơn bạc ấy.

Trong cơn mê sảng mờ mịt, Lạc Tương nhìn thấy gương mặt đau đớn vặn vẹo của ông, chàng khẽ khàng vỗ nhẹ lên bàn tay đang siết chặt của vương thúc.

“Thập cửu vương thúc,” Lạc Tương biết mình chưa bao giờ gọi sai, chàng thuận theo thiên mệnh mà cất tiếng gọi: “Hữu Hiền Vương của Bắc Hung đã vượt qua Định Tương ở phương Bắc, áp sát kinh thành Trường An. Đại thù của chúng ta ngày hôm nay đã báo, vương thúc nên lập tức khởi hành, thống lĩnh đại quân quay về trấn giữ bờ cõi.”

Lý Khuê khựng lại, đôi tay run rẩy kịch liệt, rồi nghe chàng gằn từng chữ can trường:

“Nếu biên thùy phía Bắc không yên ổn, sẽ không bao giờ có thịnh thế Trường An, thiên hạ thái bình chỉ là giấc mộng ảo. Phụ vương nếu có linh thiêng nơi chín suối, chắc chắn không muốn thấy vương thúc vì tư oán của người mà làm đại quân Bắc Cương tan tác, khiến bá tánh lầm than vào cảnh tên đạn…”

Một lời nói như lưỡi dao đâm trúng tim đen của Lý Khuê. Ông nghiến chặt răng đến phát ra tiếng động, nuốt ngược nước mắt vào trong mà gật đầu:

“Con đừng nói nữa… Vương thúc sẽ quay về Định Tương ngay lập tức, đánh cho bọn Bắc Hung không còn mảnh giáp để phụ vương con được an lòng. Chúng ta… sau này gặp lại.”

Lạc Tương nở nụ cười nhạt, gian nan giơ tay vỗ nhẹ vào lòng bàn tay ông một cái như lời giao ước. Đôi tay chàng vô lực buông thõng xuống. Lạc Tương nhìn về phía chân trời xa xăm, nơi cuối những dãy núi nhấp nhô, hình như có tiếng sấm rền vang rộn rã.

Đó không phải là tiếng sấm trời, đó là tiếng vó ngựa dồn dập quân hành.

“Lạc Tương!”

Một tiếng gọi trong trẻo, mang theo vẻ nũng nịu quen thuộc vọng lại từ trong tiếng vó ngựa cuồn cuộn.

“Lạc Tương! Chàng là đồ khốn nạn!”

Lại một tiếng gọi nữa vang lên. Tiếng gọi này rõ ràng mang theo sự phẫn nộ tột cùng, xen lẫn tiếng khóc nức nở xuyên qua tầng tầng lớp lớp binh giáp đen kịch, rót thẳng vào tai chàng. Dường như chàng lại được nghe thấy thanh âm của nàng.

Dưới hàng mi đang khép lại vì kiệt quệ, chàng mơ màng thấy bóng hình một thiếu nữ mặc hồng y rực rỡ đang liều mạng băng qua thiên quân vạn mã để chạy về phía mình. Nghĩ đến dáng vẻ tự tại và rạng rỡ như nắng mai của nàng, Lạc Tương nhắm mắt lại, một niềm dịu dàng vô hạn trào dâng trong lồng ngực.

Nếu trước khi nhắm mắt lìa đời có thể nhìn thấy nàng một lần cuối thì thật tốt biết bao. Nhưng sâu thẳm trong lòng, chàng lại mong nàng đừng tới. Vĩnh viễn đừng tới đây chứng kiến cảnh tượng này.

Tác giả có lời muốn nói:

HE, HE, HE! CHUYỆN QUAN TRỌNG PHẢI NHẮC LẠI BA LẦN!

Sẽ có cú plot twist nhé, nam chính của chúng ta không đời nào chết được đâu.

Về mặt thiết lập nhân vật:

– Lạc Tương: Thừa hưởng nét đẹp thanh tú của mẫu thân, tính cách cũng giống bà, thanh cao, chấp nhất và sẵn sàng hy sinh.

– Lý Diệu: Thừa hưởng diện mạo uy nghiêm của phụ thân, tính cách cũng y hệt: chiếm hữu mãnh liệt và vô cùng bá đạo.

[CHÚ THÍCH]

– Hai đoạn miêu tả cảnh địa ngục “Núi đao biển lửa… đã qua trăm năm” được dẫn ý từ cuốn Kinh Hiền Ngu – Một bộ kinh Phật quan trọng về nhân quả.

– Đoạn miêu tả cảnh Linh Sơn tráng lệ được dẫn ý từ danh tác Tây Du Ký.